Luận Văn Thạc Sĩ: Hoàn Thiện Pháp Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay

**SEO Description for the Article** Luận văn thạc sĩ phân tích và hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam, đề xuất giải pháp phù hợp cho giai đoạn hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2010

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua từng công đoạn sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Pháp luật thuế quy định rõ đối tượng chịu thuế, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế, và phạm vi áp dụng. Thuế GTGT có ba đặc điểm chính: tính gián thu, chỉ đánh vào giá trị gia tăng, và phạm vi điều tiết rộng. Điều này giúp tránh tình trạng đánh thuế trùng lắp, đồng thời đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước (NSNN).

1.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT được định nghĩa là khoản thu bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thuế. Thuế này được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua từng khâu sản xuất, lưu thông. Thuế GTGT ra đời nhằm khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu, tránh tình trạng đánh thuế trùng lắp. Đây là một bước tiến quan trọng trong cải cách thuếhệ thống thuế hiện đại.

1.2. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT có ba đặc điểm chính. Thứ nhất, đây là loại thuế gián thu, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng, còn người nộp thuế là các doanh nghiệp. Thứ hai, thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm, không đánh vào toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ. Thứ ba, phạm vi điều tiết rộng, áp dụng cho hầu hết các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế thị trường. Những đặc điểm này giúp thuế GTGT trở thành công cụ hiệu quả trong quản lý thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

II. Thực trạng pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam

Pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi được ban hành năm 1997 đến nay. Luật thuế GTGT đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sản xuất, khuyến khích đầu tư, và đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề như quy định về đối tượng chịu thuế, thuế suất, và cơ chế khấu trừ thuế. Những vấn đề này cần được tiếp tục hoàn thiện để phù hợp với nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế.

2.1. Quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật thuế GTGT

Luật thuế GTGT được ban hành năm 1997, thay thế cho Luật thuế doanh thu. Qua hơn 20 năm thực hiện, pháp luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Thuế GTGT đã góp phần thúc đẩy sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, và hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong quy định về đối tượng chịu thuếthuế suất.

2.2. Những vấn đề đặt ra đối với pháp luật thuế GTGT

Một số vấn đề cần được giải quyết trong pháp luật thuế GTGT hiện hành bao gồm: quy định về phạm vi áp dụng, căn cứ tính thuế, và khấu trừ thuế. Cụ thể, quy định về khấu trừ thuế còn phức tạp, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, thuế suất chưa thực sự phù hợp với nền kinh tế thị trường. Những vấn đề này cần được hoàn thiện để nâng cao hiệu quả của quản lý thuế và thúc đẩy phát triển bền vững.

III. Nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng

Để hoàn thiện pháp luật thuế GTGT, cần tuân thủ các nguyên tắc như đảm bảo công bằng, minh bạch, và phù hợp với nền kinh tế thị trường. Các giải pháp cụ thể bao gồm sửa đổi quy định về phạm vi áp dụng, thuế suất, và khấu trừ thuế. Đồng thời, cần bổ sung các quy định về thời điểm xác định thuếgiải thích từ ngữ để tránh tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

Nguyên tắc cơ bản trong hoàn thiện pháp luật thuế GTGT là đảm bảo công bằng, minh bạch, và phù hợp với nền kinh tế thị trường. Pháp luật thuế cần được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Đồng thời, cần tuân thủ các nguyên tắc của chính sách tài chínhphát triển bền vững.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế GTGT

Các giải pháp cụ thể bao gồm sửa đổi quy định về phạm vi áp dụng, thuế suất, và khấu trừ thuế. Cần bổ sung quy định về thời điểm xác định thuếgiải thích từ ngữ để tránh tình trạng áp dụng pháp luật tùy tiện. Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế khấu trừ thuếhoàn thuế để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng Thuế ra đời là một sự cần thiết khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước, bởi thuế là nguồn lực vật chất bảo đảm cho nhà nước tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Ăngghen đã chỉ rõ: "Để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của những người công dân cho nhà nước, đó là thuế má…" [30, tr.

Việc huy động để tập trung nguồn của cải xã hội vào trong tay nhà nước có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động dân đóng góp tự nguyện hoặc vay, nhưng thuế là quan hệ thu nộp thông qua biện pháp huy động, tập trung của cải có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội. Việc ấn định các thứ thuế và trực tiếp thực hiện thu thuế của nhà nước là một trong những dấu hiệu cơ bản của nhà nước, cùng với các dấu hiệu khác khiến cho nhà nước khác với các tổ chức tiền nhà nước cũng như các tổ chức tồn tại song hành cùng nhà nước trong hệ thống chính trị của một nước. Dưới góc độ kinh tế - tài chính, thuế được hiểu là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng [21, tr. Dưới góc độ pháp lý, các chuyên gia về luật thuế nhận định thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN khi có đầy đủ các yếu tố cấu thành do luật thuế qui định [28, tr.

4 Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế nhưng chúng ta đều có thể nhận thấy nét chung sau: thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức hoặc cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất định [52, tr. Thuế ban đầu xuất hiện có hình thức biểu hiện rất đơn giản dưới dạng hiện vật như quan hệ phu phen, cống nạp, sau đó chuyển dần sang hình thức giá trị. Cùng với sự phát triển, những loại thuế và hình thức thuế phức tạp hơn cũng dần hình thành. Khi nền sản xuất xã hội phát triển, năng suất lao động được nâng cao và nhu cầu chi tiêu của nhà nước tăng lên, nhà nước không ngừng cải tiến bổ sung các loại thuế để thực hiện việc quản lý nền kinh tế và tăng thêm nguồn thu cho mình.

Hiện nay, các vấn đề về thuế không chỉ dừng lại trong phạm vi từng nước mà còn mang tầm vóc quốc tế. Vì vậy, một trong những nội dung quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ giữa các nước, từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu đó là vấn đề thuế khóa. Trước khi có thuế GTGT, các nước áp dụng thuế doanh thu, tuy nhiên, loại thuế này có nhược điểm là tính trùng lắp do thuế đánh lên toàn bộ doanh thu của quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng. Khi quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu, của nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau thì tiền thuế trên một đơn vị sản phẩm càng nhiều do thuế đã đánh đi, đánh lại trên doanh thu và tính trùng lên cả tiền thuế nhiều lần.

Để khắc phục nhược điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu từ việc tính và nộp ở từng khâu sang hình thức tính và nộp một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là trước khi sản phẩm được đưa vào lưu thông lần đầu). Việc đánh thuế độc lập một lần như vậy khắc phục được hiện tượng đánh thuế trùng lắp, nhưng cách tính này lại phát sinh nhược điểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với trước, vì chỉ khi hàng hóa đi vào lưu thông thì Nhà nước mới thu được thuế. Trước một thực tế là Nhà nước vừa muốn thu được nhiều thuế và thu kịp thời, vừa muốn thúc đẩy sản xuất phát triển để bồi dưỡng nguồn thu cho 5 giai đoạn sau, các nhà kinh tế đã liên tục sửa đổi, bổ sung cho thuế doanh thu ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở đánh thuế doanh thu một lần trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông, vào đầu những năm năm mươi, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế có thể thay thế cho thuế doanh thu, đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ khi qua mỗi công đoạn từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Thuế này ra đời đánh dấu một hướng tư duy mới và sẽ khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu đã nói ở trên. Mặc dù được khai sinh ở Đức, nhưng vào thời điểm này những lý luận của Carl Friendrich Von Simens đưa ra đã không đủ sức thuyết phục được Chính phủ nên thuế GTGT không được thực hiện đầu tiên ở nước Đức. Trên thực tế thì thuế GTGT được nghiên cứu và áp dụng đầu tiên tại Cộng hòa Pháp ngày 1/7/1954 vì Pháp là một trong những nước có nền công nghiệp rất phát triển (tiến hành cách mạng công nghiệp sớm), mặt khác Pháp cũng là nước rất quan tâm đến lĩnh vực tài chính mà trọng tâm đổi mới là thuế gián thu. Ban đầu thuế GTGT ở Pháp ra đời chỉ nhằm vào một số ngành cá biệt, mãi đến năm 1968 thuế GTGT mới được áp dụng cho mọi ngành nghề và trong mọi lĩnh vực.

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã chứng minh được sự thành công của việc điều tiết nền kinh tế bằng phương pháp gián tiếp là chủ yếu. Trong bối cảnh đó với những ưu điểm đặc biệt của thuế GTGT mà nó đã nhanh chóng được triển khai, áp dụng rộng rãi. Riêng tại châu Á có thể thấy rằng, thuế GTGT ngày càng trở thành một sắc thuế phổ biến trong khu vực này. Khởi đầu tại Hàn Quốc (1977) và ngay sau đó nhiều nước đã áp dụng như Indonexia (1984), Đài Loan (1986), Philippin (1988)… Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nước chuyển sang áp dụng thuế GTGT để hợp nhất và hiện đại hóa cơ cấu thuế khóa của mình.

Các nước thành viên của liên minh châu Âu đã chọn thuế GTGT như một giải pháp tốt 6 nhất để thống nhất việc đánh thuế, khuyến khích quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng năng suất lao động. Khi được đưa vào hệ thống luật thuế, nguồn thu từ thuế GTGT đã trở thành một phần quyết định trong tổng thu đối với các nước sử dụng nó. Thuật ngữ thuế GTGT, tiếng anh là Value Added Tax (VAT), tiếng pháp là Taxe Sur la Valeur Ajoutee (TAV), thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Vì thuế được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ nên đối tượng nộp thuế phải là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có giá trị tăng thêm, nhưng thực chất phần thuế mà họ nộp lại do người mua hàng hóa, dịch vụ phải thanh toán khi trả tiền hàng hóa, dịch vụ.

Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Dựa vào các đặc điểm của thuế GTGT, chúng ta có thể nhận diện thuế GTGT với các loại thuế khác. Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu. Dưới giác độ kinh tế -tài chính thuế gián thu là thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ [21, tr. Dưới giác độ pháp lý, thuế gián thu được hiểu là loại thuế mà người gánh chịu thuế là khách hàng, nhưng người nộp thuế lại là người bán hàng, nhà nhập khẩu [52, tr.

Nói cách khác, thuế gián thu là việc người tiêu dùng (người chịu thuế) chuyển một phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình vào NSNN thông qua một người thứ ba - người sản xuất, kinh doanh (người nộp thuế). Xét trong mối quan hệ tay ba: nhà nước, người chịu thuế và người nộp thuế thì người nộp thuế đóng vai trò trung gian thu thuế hộ nhà nước rồi nộp vào NSNN. 7 Đối với thuế GTGT, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện thu thuế GTGT khi bán các hàng hóa, dịch vụ. Tiền thuế GTGT được tính trên cơ sở giá bán hàng hóa, dịch vụ và người mua phải trả trong giá thanh toán của hàng hóa, dịch vụ.

Sau khi bán được hàng hóa, dịch vụ các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp thuế vào NSNN thay cho người tiêu dùng. Như vậy, người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán hàng hóa và dịch vụ cho người bán, trong đó bao gồm cả khoản thuế GTGT. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp (đã được người mua trả) vào NSNN. Do đối tượng nộp thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT không đồng nhất, thuế GTGT được coi là một loại thuế gián thu điển hình.

Sự không đồng nhất giữa người nộp thuế và người chịu thuế dẫn đến thân phận pháp lý của mỗi đối tượng là khác nhau, có những quyền và nghĩa vụ khác nhau. Vì vậy, đối với thuế GTGT nói riêng và thuế gián thu nói chung việc phân biệt người chịu thuế và người nộp thuế rất quan trọng về phương diện pháp lý. Trong nhiều trường hợp người nộp thuế GTGT cũng đồng thời là người chịu thuế GTGT, tất nhiên là đối với các hàng hóa, dịch vụ khác nhau. Ví dụ, cơ sở sản xuất kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT để tiêu dùng chứ không sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó để sản xuất, kinh doanh thì cơ sở sản xuất kinh doanh là người chịu thuế GTGT.

Còn đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, bán ra thì cơ sở kinh doanh lại là đối tượng nộp thuế. Sự khác biệt thân phận pháp lý ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của mỗi đối tượng, như trong vai trò là người tiêu dùng (người chịu thuế), cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Thứ hai, thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị gia tăng. Thuế GTGT chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ tại mỗi công đoạn sản xuất, lưu thông và đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc 8 cung cấp dịch vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hoàn Thiện Pháp Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng Ở Việt Nam Hiện Nay" tập trung phân tích những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống pháp luật thuế giá trị gia tăng (VAT) tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý này. Tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng mà còn đưa ra những gợi ý thiết thực để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, đảm bảo công bằng và minh bạch trong hệ thống thuế. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia thuế và những ai quan tâm đến lĩnh vực này.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thuế giá trị gia tăng trong ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam, Luận văn một số giải pháp tăng cường công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh cá thể tại chi cục thuế huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa, và Luận văn nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thanh tra thuế tại cục thuế tỉnh Quảng Ninh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau trong quản lý thuế và cách thức áp dụng chúng trong thực tiễn.