ae TRUONG DAI HOC LUẬT HÀ NỘI =2» KHOA PHÁP LUẬT KINH TẺ car ụ ex zÄ THIEN PHAP LUAT VE BẢO HIẾM XÃ HỘI BAT BUỘC THEO NGHỊ QUYET SO 28-NQ/TW HỘI NGHỊ TRUNG UONG 7 KHOA XII Hà Nội - 2019 MỤC LỤC STT TÊN CHUYỂN DE SỐ TRANG 1. | Một sô vân đê lý luận về bảo hiêm xã hội bat buộc và sự điêu chỉnh của l pháp luật D6 Thị Dung 2. | Nghị quyết sô 28/NQ-TW và những vân đê đặt ra đôi với việc hoàn thiện 19 pháp luật BHXH bắt buộc Tran Thị Thuý Lâm 3. | Pháp luật một SỐ quôc gia về bảo hiểm xã hội bắt buộc và những bài học 28 kinh nghiệm cho Việt Nam Nguyễn Hiền Phương 4.
| Sửa đôi, hoàn hiện quy định pháp luật vê chê độ bao hiêm xã hội ôm đau 55 Doan Xuân Trường 5. | Sửa doi, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hiém thai san 66 _ Nguyễn Tiến Dũng 6. | Kiên nghị sửa đôi một sô quy định vê chê độ bao hiêm tai nạn lao động, 82 bệnh nghề nghiệp trong Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 D6 Thị Dung 7. | Pháp luật vê bảo hiêm hưu trí bat buộc và hướng hoàn thiện theo nghị 93 quyết số 28 Tran Thị Thuý Lâm 8.
| Nguôn tai chính thực hiện bảo hiém xã hội bat buộc 110 Nguyễn Hữu Chí 9. | Hoàn thiện pháp luật vé xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong 125 lĩnh vực bảo hiểm xã hội bắt buộc theo tinh thần nghị quyết số 28- NQ/TW Hội nghị Trung ương 7 khoá XII Hà Thị Hoa Phượng Chuyên dé 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HIẾM XA HOI BAT BUỘC VA SU DIEU CHINH CUA PHAP LUAT DO THI DUNG! 1. Bảo hiểm xã hội bat buộc 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội bắt buộc Mục đích của người lao động (NLD) khi tham gia quan hệ lao động là nhằm mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình.
Tuy nhiên trong quá trình lao động, do nhiều nguyên nhân từ điều kiện lao động, môi trường làm việc,. dẫn đến bị 6m dau, tai nạn, bệnh tật. Khi đó, họ không thé đi làm và không có thu nhập để bảo đảm đời sống hàng ngày, đồng thời cũng không có tiền chi trả những chi phí tăng thêm cho nhu cầu bồi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ. Chính vi thế, tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) nhằm bao đảm nguồn thu nhập ổn định trong những trường hợp rủi ro từ quá trình lao động là nhu cầu thiết yêu của NLD.
Khi mới hình thành tại Đức vào năm 1883, BHXH được thực hiện mang tính bắt buộc đối với NLD tham gia quan hệ lao động với các chế độ ốm đau, tai nạn lao động, bảo hiểm tuổi già. Với những ưu điểm trong việc bảo hiểm thu nhập cho NLD không may gặp rủi ro trong quá trình lao động nên BHXH được phát triển dần sang các quốc gia Châu Âu. Đến khoảng đầu thế kỷ XX, BHXH được mở rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới và trở thành một trong các quyền con người. Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp quốc năm 1948 đã khang dinh: “Tat ca moi người với tu cach là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”.
Dé đảm bảo quyền lợi co bản cho NLD trên toàn thế giới và an toàn xã hội, ngày 04/06/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu an toàn xã hội. Đến nay, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mình mà mỗi quốc gia thực hiện chính sách BHXH khác nhau, song điểm chung là đều ghi nhận ! Tiến sĩ, Giảng viên chính ; Bộ môn Luật Lao động, Khoa Pháp luật Kinh tê, Dai học Luật Ha Nội | BHXH bao gồm hai hình thức BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Trong đó BHXH bắt buộc là loại hình BHXH quan trọng, áp dụng đối với NLD tham gia quan hệ lao động và các chế độ bao gồm cả BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH chủ yếu bắt buộc áp dụng đối với một số đối tượng theo quy định của pháp luật”.? Với mục đích nhằm bảo vệ thu nhập cho NLD khi họ gặp rủi ro trong và sau quá trình lao động dẫn đến suy giảm khả năng lao động, từ đó làm giảm hoặc mat thu nhập, nên phạm vi đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc ngày càng mở rộng.
Ở Việt Nam hiện nay, khái nệm BHXH bắt buộc được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014: “Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”. Mặc dù khái niệm này nhẫn mạnh được tính chất bắt buộc quan trọng nhất của BHXH bắt buộc là về chủ thể tham gia (NLĐ và NSDLĐ), song chưa đề cập tính chất bắt buộc về mức phí đóng, chế độ hưởng. Từ phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm BHXH bắt buộc như sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia, có trách nhiệm đóng phí vào quỹ BHXH dé NLD và chủ thê khác được hưởng các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật. So với BHXH tự nguyện, BHXH bắt buộc có đặc trưng là tính bắt buộc.
Tinh chất bắt buộc của BHXH thé hiện qua các khía cạnh sau đây: Về doi tượng tham gia: Đôi tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLD và NSDLĐ. Người lao động, khi có thu nhập ổn định từ tiền lương, họ phải có trách nhiệm tích luỹ bằng việc đóng góp một khoản tiền vào quỹ BHXH để khi bị giảm hoặc mat thu nhập được bảo đảm đời sống. Người sử dung lao động là bên sử dụng sức lao động cua NLD nên phải có trách nhiệm đôi với ? Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, 2 NLD (sức lao động) khi họ gặp rủi ro trong và sau quá trình lao động. Trách nhiệm này được thực hiện thông qua việc NSDLD phải trích một tỷ lệ nhất định từ lợi nhuận của mình dé đóng BHXH cho NLD hưởng.
Trong khi đó đối tượng tham gia BHXH tự nguyện chỉ là NLĐ. Người lao động này phần lớn không tham gia quan hệ lao động hoặc có tham gia quan hệ lao động nhưng đã được NSDLD trả tiền BHXH vào lương hàng tháng. Về mức đóng và phương thức đóng BHXH bắt buộc: Mức đóng và phương thức đóng BHXH bắt buộc của NLD và NSDLD được pháp luật quy định cụ thé. Theo đó, NLD va NSDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bat buộc phải tuân theo, không có sự thoả thuận mức phí và phương thức đóng phí như bảo hiểm dân sự và cũng không được lựa chọn mức phí và phương thức đóng như BHXH tự nguyện.
Mức đóng và phương thức đóng BHXH bắt buộc được nhà nước quy định trên cơ sở cân đối giữa mức đóng và mức hưởng, giữa số lượng người tham gia với số lượng người thụ hưởng, đồng thời bảo dam sự thuận tiện trong quan lý các hoạt động trích nộp quỹ và chi trả các chế độ nhằm bảo đảm an toàn về tài chính cho quỹ BHXH. Về chế độ BHXH: Các ché độ BHXH bắt buộc đều do pháp luật quy định. Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà các chế độ BHXH bắt buộc được quy định khác nhau. Tuy nhiên, khi đã tham gia BHXH bắt buộc thì NLĐ sẽ phải tham gia các chế độ BHXH theo quy định chứ không lựa chọn như BHXH tự nguyện.
Các chế độ BHXH bắt buộc thông thường bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghé nghiệp, chế độ bảo hiểm tuổi già/hưu trí và chế độ tử tuất. Dé được hưởng các chế độ này, đối tượng hưởng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định. Y nghĩa của bảo hiểm xã hội bắt buộc Thứ nhất, bảo hiểm xã hội bắt buộc góp phần ổn định đời sống của NLD tham gia quan hệ lao động. Trong quá trình lao động, NLD phải đối mặt với nhiêu rủi ro như ôm đau, bệnh tật, tai nạn lao động, rôi sau quá trình lao động là tuổi già, khả năng lao động suy giảm, bị chết.
Khi nay, NLD sẽ không có thu nhập do không thể đi làm, từ đó ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của họ và gia đình. Nếu NLD tham gia BHXH bắt buộc, họ sẽ được quỹ BHXH trả một khoản trợ cấp nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bi mat, giúp bảo đảm 6n định đời sống của NLD và gia đình họ. Từ đó tạo cho NLD tâm lý yên tâm trong quá trình làm việc, phát huy tinh than sáng tạo dé nâng cao năng suất, hiệu qua lao động. Thứ hai, BHXH bắt buộc góp phan thực hiện công bằng xã hội.
Ban chất của BHXH là việc chia sẻ những rủi ro, tương trợ cộng đồng giữa NSDLĐ va NLD, và ngay cả những NLD với nhau theo nguyên tắc “lay số đông bù số ít”. Thông qua việc tham gia BHXH bắt buộc, rủi ro trong quá trình lao động của NLD sẽ được NSDLD và nhiều NLD cùng chia sẻ. Bởi sự phân phối trong BHXH bắt buộc là sự chuyền dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyên dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người tuôi già, suy giảm hoặc hết khả năng lao động. Ở các nước phát triển và đang phát triển, trong điều kiện kinh tế thị trường, khi sự bất bình đăng về thu nhập tăng cao, chính phủ các nước đều đưa ra các chính sách để giảm dần khoảng cách giàu, nghèo.
Trong đó, chính sách BHXH nói chung, BHXH bắt buộc nói riêng là một trong những chính sách tạo sự bình dang cho NLD, góp phan thực hiện công bằng xã hội. Thứ ba, BHXH bắt buộc góp phần bảo đảm ASXH của đất nước. BHXH bắt buộc là một trong những chính sách xã hội quan trọng của mỗi quốc gia nhằm 6n định đời sống NLD, là tiền đề thúc day tăng trưởng kinh tế và góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Khi tham gia BHXH bắt buộc, NLĐ được bảo đảm thu nhập không chỉ khi gặp rủi ro mà cả khi về già, suy giảm khả năng lao động.
Từ đó, làm giảm gánh nặng cho nhà nước thông qua các chê độ trợ câp xã hội mà nhà nước phải thực hiện.