BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI HỘI THẢO KHOA HỌC Hà Nội, ngày 31 thang 8 năm 2022 DANH MỤC BAI VIET HỘI THẢO CAP TRUONG ĐÓNG GÓP Ý KIÊN CHO VIỆC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT, CHUYÊN NGÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ngày 31 thang 8 nam 2022 STT NOI DUNG TRANG Sự cần thiết xây dựng Chương trình đào tao ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ PGS. Vũ Thị Hải Yến Đề xuất xây dựng mục tiêu và chuân đầu ra của Chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ 16 1S. Vương Thanh Thúy Đề xuất xây dựng các môn học kỹ năng trong Chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ 24 ThS. Trần Mạnh Hùng Đề xuất xây dựng các học phần trong Chương trình đào tạo trình độ đại học ngành Luật - chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ 33 ThS.
Phạm Minh Huyễn Đề xuất các hoạt động hợp tác với các đối tác, đơn vị trong nước dé thực hiện Chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật 64 Sở hữu trí tuệ TS. Nguyễn Thị Hoàng Hạnh Đề xuất các hoạt động nghiên cứu khoa học dé thực hiện Chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ 71 ThS. Nguyễn Phan Diệu Linh Kinh nghiệm đào tạo chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ tai hoa ky 80 TS. Nguyễn Bích Thảo Những kiến thức, kỹ năng cần thiết của sinh viên chuyên nghành Luật Sở hữu trí tuệ - Góc nhìn thực tiễn 88 LS.
Lê Xuân Lộc, LS. Nguyễn Thị Mai Linh, Hoàng Thái Sơn Kinh nghiệm của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 108 trong tô chức các hoạt động nghiên cứu khoa hoc và các cuộc thi về sở hữu trí tuệ nhăm thúc đây sự yêu thích và năng lực của sinh viên trong lĩnh vực này TS. Hoàng Thị Hải Yến Đào tạo sinh viên chuyên ngành Sở hữu trí tuệ - Kinh nghiệm từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân, Đại học Quốc gia Hà 10 115 Nội ThS. Hoàng Lan Phương Cách thức giảng day Luật So hữu trí tuệ tại một sé truong dai hoc 11 trén thé gidi - Bai hoc kinh nghiém cho Viét Nam 130 ThS.
Bui Thi Minh Trang Dinh hướng, chính sách, co sở pháp lý cho việc xây dựng Chương 12 trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ 137 TS. Lê Đình Nghị SỰ CAN THIẾT XÂY DỰNG CHUONG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT, CHUYÊN NGÀNH LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ PGS. Vũ Thị Hải Yến” Tóm tat: Dé làm rõ sự cân thiết của việc xây dựng Chương trình đào tạo ngành Luật - chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ, bài viết nhấn mạnh vai trò của việc bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập và bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0; Chính sách của Nhà nước đổi với việc đào tạo Luật Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam; phân tích nhu cẩu của xã hội và thực trạng đào tạo về sở hữu trí tuệ trong các cơ sở đào tạo đại học tại Việt Nam nói chung và tại Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng. Từ khóa: Chương trình đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ.
Vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập và bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Từ lâu, trên thế giới, các tài sản trí tuệ (TSTT) đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, quyết định sự phát triển và thịnh vượng của mỗi doanh nghiệp, quốc gia, khu vực cũng như toàn xã hội, trở thành “động lực nội sinh cho sự phát triển kinh té”, “trở thành một nguồn của cải tạo ra sự thịnh vượng”.! Sở hữu trí tuệ (SHTT) được ghi nhận như một tài sản vô hình quan trọng do nó đại diện 80% tổng giá trị của một công ty và là giải pháp dé đảm bảo lợi thế cạnh tranh trong các dây chuyền giá trị đang được toàn cầu hóa?. Các đối tượng sở hữu trí tuệ thường mang yếu té sáng tao và đổi mới, đặc biệt nó CÓ SỰ gắn bó mật thiết với khoa học, công nghệ cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh, do đó, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng phải thay đổi không ngừng dé bắt kịp sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ. Lịch sử nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, mỗi cuộc cách mạng đều đặc trưng băng sự thay đổi về bản chất của nền sản xuất được tạo ra bởi các đột phá của khoa học công nghệ. Hiện nay, thế giới đang chuyền sang một cuộc cách mạng công nghiệp mới - Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay Công nghiệp 4.0, với những đột phá về khoa học, kỹ thuật đã và đang làm thay đổi bộ mặt của thé giới và có tác động trực tiếp đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
SHTT có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng * Khoa Pháp luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội ! Kamil Idris, “Sở hữu trí tuệ - một công cụ đề phát triển kinh tế”, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, tr 55 (bản dịch của Cục Sở hữu trí tuệ) > Marcos Eduardo Kauffman, “Intellectual Property Law in the Fourth Industrial Revolution: Trade Secrets Risks and Opportunities”, Revista Juridica vol. tr 208 https://www.net/publication/332255116 (Truy cập ngày 26/06/2022) 1 công nghiệp 4. Những sáng tạo trí tuệ đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh doanh, là chìa khóa thành công tạo nên sự thịnh vượng cho các doanh nghiệp, các quốc gia cũng như toàn xã hội. Bảo hộ quyền SHTT ngày càng trở thành yếu tố then chốt trong quá trình xây dựng chiến lược quốc gia nham dat được sự phát triển kinh tế xã hội bền vững thông qua việc nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Trước đây, mỗi quan tâm của các nhà làm luật sở hữu trí tuệ chỉ tập trung vào việc sử dụng quyền SHTT như một vũ khí dé bảo vệ các vật thể hữu hình như thiết bị, đồ vật, cấu trúc hay sự liên kết hữu hình. Tuy nhiên, với việc ứng dụng công nghiệp 4.0, thách thức đặt ra là phải tập trung mở rộng phạm vi bảo vệ cả những sản phẩm vô hình như cấu trúc, phương pháp của hệ thống ảo; quyền sở hữu, xử lý và lưu trữ đối với di liệu, các thuật toán, sự nhận diện thương hiệu. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng với sự sáng tạo của con người và kết quả của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã có nhiều tác động đến các vấn đề pháp lý về luật sở hữu trí tuệ. Những đột phá về công nghệ trong Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 lại đang đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: tạo ra cơ chế bảo hộ phù hợp cho các đối tượng SHTT trong bối cảnh phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật; bảo vệ được quyền và lợi ích cho các chủ thé sáng tạo và đầu tư dé khuyến khích hoạt động sáng tạo mà không gây rào cản đối với sự tiếp cận của công chúng đối với các kết quả sáng tạo; bảo đảm sự phát triển khoa học - kỹ thuật, văn hoá xã hội.
Bao hộ quyền SHTT đóng vai trò quan trọng đối với sự tiến bộ về khoa học công nghệ, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ké từ khi SHTT trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các nước đang phát triển như Việt Nam chỉ có thé tiếp cận và khai thác nguồn tri thức nhân loại dé phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước khi làm chủ được các van đề SHTT, nắm bắt và khai thác được lợi thế của hệ thống SHTT quốc tế và quốc gia với một hệ thống các luật lệ, quy tắc va thê chế. Đề có thê khai thác tối đa những lợi ích mà quyền SHTT có thể mang lại, tận dụng SHTT như một công cụ hữu hiệu cho sự nghiệp phat triển kinh tế xã hội của đất nước, bên cạnh việc xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc bảo hộ quyền SHTT, một yêu cầu rất quan trọng là phải xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức chuyên sâu về SHTT để đáp ứng nhu cầu của xã hội, đặc biệt trước xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay. 3 Marcos Eduardo Kauffman, “Intellectual Property Law in the Fourth Industrial Revolution: Trade Secrets Risks and Opportunities”, Revista Juridica vol.
tr 208 https://www. Chính sách của nhà nước đối với việc đào tạo về sở hữu trí tuệ trong các trường đại học của Việt Nam hiện nay Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước cùng với việc Việt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế và hội nhập kinh tế thé giới đặt ra yêu cầu về nguồn nhân lực pháp lý có chất lượng cao. “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách dé thực hiện có hiệu qua chủ trương giáo duc và dao tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đâu, là động lực then chốt để phát triển đất nước. Tiếp tục đổi mới đông bộ mục tiêu và nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo duc và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn điện, đáp ứng những yêu câu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lan thứ tư ”°.
Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động đào tạo về SHTT dé đáp ứng nhu cầu của xã hội và nền kinh tế đã được thé hiện rõ tại khoản 4 Điều 8 Luật SHTT: “Uw tién dau tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ can bộ, công chức, viên chức, các đối tượng có liên quan làm công tác bảo hộ quyên SHTT và nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật về bảo hộ quyên SHTT”. Cụ thé hoá quy định này, Điều 3 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/9/2006 Quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp quy định: Bộ Khoa học va Công nghệ có nhiệm vụ “Chui tri, phối hợp với Bộ Giáo đục và Đào tạo, Bộ Tư pháp xdy dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, bôi dưỡng kiến thức, pháp luật về sở hữu công nghiệp”.