Chương 1: Những vấn đề lý luận về an sinh xã hội và pháp luật an sinh xã hội. Chương 2: Thực trạng pháp luật an sinh xã hội Việt Nam. Chương 3: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam. CHUONG 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE AN SINH XA HOI VA PHAP LUAT AN SINH XA HOI 1.
KHAI QUAT CHUNG VE AN SINH XA HỘI 1. Tính tất yếu của an sinh xã hội Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp những thuận lợi, may man để tồn tại va phát triển. Trái lại, những rủi ro từ nguyên nhân khách quan, chủ quan, từ thiên nhiên, từ quá trình lao động, từ những bất hạnh của hoàn cảnh v.thường đe dọa cuộc sống của mỗi cá nhân khiến họ phải tìm cách bảo vệ mình. Trước những tình huống đó, từ xa xưa con người đã tìm đến những biện pháp bao vệ đơn giản như tiết kiệm, để dành theo dạng “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”, đồng thời trông chờ vào sự tương trợ, đùm bọc, chia sẻ của gia đình, họ hàng thân tộc, làng xóm, nhà chùa, nhà thờ v.
Các hoạt động tương trợ có tính chất truyền thống và mang nặng yếu tố tình cảm, bổn phận con người này đã đặt nền móng đầu tiên cho su phát triển của các hình thức ASXH hiện đại. Khi xã hội phát triển, đặc biệt là sự hình thành ngành công nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Một loạt các rủi ro, biến cố mới mà trước đây con người chưa gặp phải như TNLD, BNN, mất việc làm v. thì gid đây xuất hiện và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và cuộc sống của họ.
Những biện pháp tương trợ truyền thống và không chính thức thường áp dụng trước đây tỏ ra không còn hiệu quả cao. Điều đó dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các biện pháp, phương thức bảo vệ khác hiệu quả hơn. Sáng kiến thiết lập quỹ tài chính từ sự đóng góp bắt buộc của các bên trong quan hệ lao động, đạt dưới sự hé trợ, đảm bao của Nhà nước và mang tính xã hội sâu sac, không vì mục đích kinh doanh trên phạm vi rộng được hình thành. Day chính là hình thức BHXH được đề xuất đầu tiên ở Đức dưới thời Thủ tướng Bismarck (Otto Von Bismarck 1815 - 1898) vào năm 1850 nhằm bảo vệ NLD trong trường hợp mất thu nhập vì ốm đau, bệnh tật sau đó mở rộng dan việc bao hiểm với các trường hợp rủi ro khác như tai nan nghề nghiệp vào năm 1884, tuôi gia va tàn tật vào nam 1889.
6] Với những ưu điểm của mình như phạm vi bảo vệ rong, khả năng bảo vệ ổn định và chac chan, mô hình này nhanh chóng lan toa dan sang các quốc gia Chau Âu. Mỹ Latinh và khắp các quốc gia trên thế giới. Năm 1905 Pháp thực hiện chế độ BHTN tự nguyện, năm 1928 thực hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và ốm đau. Nam 1911 Anh thực hiện chế độ bảo hiểm ốm dau, thất nghiệp, tuổi già.
Cho đến nay, hình thức bảo vệ này đã được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thê giới và vẫn được coi là hình thức bảo vê hiện đại nhất với những ưu điểm của mình. Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm riêng của từng quốc gia mà có sự khác nhau về phạm vi các chế độ bảo vệ, mức đóng góp của các chủ thể tham Ø1a, cơ quan quản lý, thực hiện. Thực tế cho thấy, không phải tất cả mọi thành viên xã hội đều tiếp cận được với cơ chế BHXH tiến bộ này. Một bộ phận dân chúng, đặc biệt là những người nghèo khổ, không có thu nhập.
không tham gia quan hệ lao động không đủ khả năng tiếp cận với cơ chế cùng đóng góp, cùng chia sẻ rủi ro. Nếu họ chỉ trông chờ vào các hình thức tương trợ truyền thống, không chính thức thì khả năng đảm bảo an toàn không cao, đặc biệt trong điều kiện xảy ra rủi ro trên diện rộng, khủng hoảng kinh tế. Lúc này, cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính xã hội với sự đảm bảo chác chán từ Nhà nước trở thành cần thiết hơn bao giờ hết. Nhà nước tham gia không chỉ đơn thuần xuất phát từ nhu cầu bảo vệ các thành viên xã hội mà còn là trách nhiệm của nhà cầm quyền cũng như đảm bảo được mục đích duy trì trật tự xã hội, củng cố địa vị của giai cấp thống trị.
Song song với các hoạt động tương trợ truyền thống, các chế độ BHXH hiện đại, Nhà nước còn thiết lập hệ thống các chê độ bảo vệ với tất cả cộng đồng dân chúng, không có sự phân biệt và giới hạn theo tiêu chí nào. Các chế độ bảo vệ trước tiên và phổ biến nhất được áp dụng với các đối tượng “yếu thé” trong xã hội như người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, goá bụa. hay những đối tượng nạn nhân của thiên tai như động đất, bão lụt, hạn hán bằng các khoản trợ cấp từ Nhà nước mà không yêu cầu nghĩa vụ đóng góp. Cac dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, thích ứng cho người tàn tật, các dịch vụ chăm sóc người già, bảo vệ trẻ em.
từng bước được mở rộng ở các nước theo điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, phong tục tập quán với các mô hình quản lý khác nhau. Tất cả các cách thức, biện pháp chống lại các rủi ro bảo vệ cuộc sống của con người trong xã hội do Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện, do các chủ thể tự thiết lập trên cơ sở nhu cầu và lợi ích của mình hoặc những biện pháp tương trợ truyền thống trong cộng đồng dân cư trên cơ sở tình cảm, đạo đức, bổn phận con người. đã dân hình thành nên mạng lưới bảo vệ an toàn cho cuộc sống của các thành viên xã hội và được gọi là ASXH. Như vậy, ASXH ra đời xuất phát từ nhu nhu cầu tự nhiên, tất yếu cua con người trong việc tìm kiếm mot điều kiện sống an toàn để tồn tại và phát triển.
Qua đó cũng cho thấy ASXH tồn tại trong mọi thời kỳ, mọi nền kinh tế chứ không chỉ tồn tại trong xã hội hiện đại hay trong điều kiện kinh tế thị trường. Sự ra đời và phát triển của ASXH là một quá trình bát nguồn từ các hình thức, biện pháp tương trợ công đồng sơ khai, đơn giản đến các hình thức bảo vệ hiện đại, có sự can thiệp của Nhà nước. Đây chính là sự tổng hoà của các hình thức tương trợ, bảo vệ trong đó có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được mục đích bảo vệ ngày càng tốt hơn cuộc sống của các thành viên xã hội. Cho đến nay, theo tổng kết của ILO, nội dung ASXH đã được thực hiện ở trên 170 quốc gia trên thé giới [134, tr.
ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận như một trong những quyền con người và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bình ổn và phát triển đất nước. Quyền hưởng ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về Nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: “Tất cả mọi người, với tu cách là thành viên xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho sự tự do phát triển con người. Trên cơ sở đó, pháp luật quốc tế cũng như quốc gia đều thể chế thực hiện thông qua pháp luật với mục đích chung đem đến sự bảo vệ ngày càng tốt hơn cho cuộc sống của mỗi thành viên xã hội.
Quan niệm về an sinh xã hội 1. Quan niệm về an sinh xá hôi trên thế giới Qua việc đề cập đến sự ra đời của ASXH, chúng ta cũng đã hình dung được sự phong phú về nội dung và tính đa dạng về hình thức thực hiện ASXH. Với những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, phong tục tập quán. của các khu vực, các quốc gia khác nhau mà quan niệm về ASXH có thể được 10 giải thích ở phạm vi rong, hẹp khác nhau và có thé được tiếp cận dưới nhiều góc độ, quan điểm, trường phái khác nhau.
Cho đến nay, trên thế giới hình thành hai trường phái cơ bản tiếp cận với khái niệm ASXH, đó là trường phái kinh tế và trường phái xã hội. Theo trường phái kinh tế, ASXH chủ yếu được tiếp cận như là một cơ chế phân phối lại thu nhập xã hội nhằm điều hoà lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự bần cùng, nghèo đói, cải thiện điều kiện sống của mọi thành viên xã hội, đặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro. Theo đó, ASXH chính là kết quả của việc tìm kiếm các biện pháp bảo đảm về kinh tế cho các thành viên xã hội khi gặp phải rủi ro, biến cố dẫn đến những khó khăn về kinh tế, xã hội. Cũng từ quan niệm đơn giản rằng khi gặp khó khăn, rủi ro dẫn đến hậu quả như giảm hoặc mất thu nhập, nghèo đói, tật bệnh.
con người cần có sự bảo đảm thoát khỏi tình trạng này. ASXH chính là những biện pháp đảm bảo về kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế phân phối lại thu nhập xã hội. Việc tổ chức và thực hiện các biện pháp này nhắm đến mục tiêu bảo vệ cuộc sống của mọi người dân, điều hoà lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt su ban cùng, nghèo đói, cai thiện điều kiện sống của mọi thành viên xã hội, đặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro. Với mục tiêu chính là bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội trước những rủi ro, biến cố nên nội dung của ASXH theo quan điểm của trường phái này không chi dừng lại ở các biện pháp bảo vệ có tính xã hội như BHXH, TGXH, phúc lợi xã hội.
mà thậm chí còn mở rộng với bảo hiểm thương mại, các hình thức tiết kiệm cá nhân, chế độ bảo vệ của chủ sử dụng lao động v. Trong đó, vai trò của Nhà nước là có giới hạn, Nhà nước chỉ can thiệp khi bản thân đối tượng và cộng đồng không ihé lo được. Xuất phát từ việc chú trọng đến yếu tố kinh tế, nên các quốc gia theo trường phát này thường xác định cơ sở có tính quyết định cho sự thành công của ASXH chính là nguồn lực tài chính đảm bảo thực hiện.