CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế - xã hội, các cơ quan Nhà nước và các tầng lớp dân cư ”.[1] Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 quy định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của TCTD nhƣ sau: “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” .[9] Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, đƣợc thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Phân loại tín dụng ngân hàng [1],[12] Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại trong giai đoạn hiện nay. Việc phân loại `tín dụng là rất cần thiết và phải có tính khoa học, không đƣợc phân loại một cách tuỳ tiện vì nó Luan van 9 có ý nghĩa rất lớn. Căn cứ vào mục đích Căn cứ theo tiêu thức này ngƣời ta chia ra làm các loại sau: - Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. - Cho vay thi công xây lắp: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây lắp.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lƣu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại dịch vụ. - Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhƣ phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu… - Cho vay định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác. - Cho vay cá nhân : Là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nhƣ mua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản vay để trang trải các chi phí thông thƣờng của đời sống. Căn cứ vào thời hạn cho vay Căn cứ theo tiêu thức này ngƣời ta chia tín dụng thành 3 loại - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Đây là loại hình tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì trong một thời gian ngắn ít có những biến động xảy ra và ngân hàng thƣờng luôn dự tính đƣợc những biến động đó. Tín Luan van 10 dụng ngắn hạn bao gồm chiết khấu, thấu chi, tín dụng ứng trƣớc và tín dụng bổ sung vốn lƣu động. - Tín dụng trung hạn : là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín dụng này chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn : là loại tín dụng có thời hạn lớn hơn 5 năm đƣợc sử dụng để cấp vốn cho đầu tƣ xây dựng cơ bản, đầu tƣ xây dựng các nhà máy mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay…). Loại tín dụng này thƣờng có mức độ rủi ro lớn do khó lƣờng trƣớc đƣợc những biến động có thể xảy ra. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng Căn cứ theo tiêu thức này tín dụng đƣợc chia thành hai loại: - Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay nhƣ thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Cho vay không có bảo đảm (tín chấp): là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của ngƣời khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay.
Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng Căn cứ theo tiêu thức này có thể chia tín dụng thành 3 loại: - Chiết khấu thương phiếu: Thƣơng phiếu đƣợc hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Ngƣời bán (người thụ hưởng) có thể giữ thƣơng phiếu đến hạn để đòi tiền ngƣời mua (người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trƣớc hạn. - Cho vay : là loại hình thông dụng nhất trong hoạt động tín dụng, nó có nghĩa là ngân hàng cho khách hàng vay tiền để phục vụ cho những mục đích khác nhau của khách hàng. Luan van 11 - Bảo lãnh : là cam kết của ngân hàng dƣới hình thức thƣ bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ nhƣ cam kết.
Vai trò của tín dụng ngân hàng trong hoạt ộng KD của NHTM [1], [11] - Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản chủ yếu của NHTM: NHTM tập trung chủ yếu vào hai nhiệm vụ chính là nhận tiền gửi và cho vay , trong quá trình hoạt động của ngân hàng, dù cho có sự thay đổi về môi trƣờng kinh tế hoặc phƣơng pháp hoạt động, có thể ảnh hƣởng đến NHTM, nhƣng hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động cơ bản. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ hoạt động của NHTM và là hoạt động sinh lời chủ yếu của NHTM. - Chất lượng tín dụng là yếu tố mang tính chất sống còn đối với NHTM. Khi hoạt động tín dụng ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển một cách đa dạng và phong phú với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế, quan hệ tín dụng ngày càng đƣợc mở rộng về đối tƣợng và quy mô thì hoạt động tín dụng của NHTM ngày càng cạnh tranh, phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.
Để các NHTM có thể phát triển và đứng vững trong môi trƣờng cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi công tác kiểm soát rủi ro TD trong các NHTM phải đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc. Do đó NHTM cần phải nâng cao chất lƣợng TD trong hoạt động cho vay. KHÁI QUÁT VỀ PHÂN TÍCH TCDN TRONG CHO VAY CỦA NHTM 1. Khái niệm phân tích TCDN Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phƣơng pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý Luan van 12 nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lƣợng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
Mục ích của việc phân tích tài chính doanh nghiệp [11] Nhằm giúp các NHTM có quyết định đầu tƣ đúng đắn: xác định đƣợc điểm mạnh và điểm yếu của DN, đánh giá đƣợc thực lực tài chính của DN và dự đoán triển vọng trong tƣơng lai của DN. Mặt khác có thể đánh giá đƣợc rủi ro của DN, đặc biệt là khả năng thanh toán ở hiện tại và tƣơng lai , và quyết định có nên cho DN vay hay không và mức độ rủi ro mà NH phải gánh chịu khi chấp nhận cho DN vay. Góp phần xác định khả năng thanh toán của khách hàng, làm cơ sở cho khả năng thu hồi lãi và vốn vay của ngân hàng: thông qua việc phân tích tình hình tài chính của DN, NH sẽ biết đƣợc khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN nhƣ thế nào, tình hình tự chủ tài chính cũng nhƣ khả năng sử dụng nợ vay của DN ra sao, hay mức doanh thu mà DN đạt đƣợc so với số đầu tƣ về các tài sản lƣu động và cố định của nó. Ngoài ra NH còn có thể biết đƣợc mức lợi nhuận mà DN đạt đƣợc là bao nhiêu, có đáp ứng đƣợc cho việc trả nợ NH hay không? Nhằm xác định rõ triển vọng quan hệ của khách hàng với ngân hàng trong tƣơng lai: việc phân tích tình hình tài chính của DN sẽ giúp NH đánh giá vị thế của KH trong lĩnh vực họ đang KD.
Qua các chỉ số tài chính sẽ phản ánh chất lƣợng, hiệu quả KD, tình trạng tài chính của DN, qua đó so sánh với các DN khác cùng ngành, cùng quy mô và đánh giá so với chỉ số tài chính chung của ngành mà DN đang hoạt động. Việc đánh giá đƣợc năng lực tài chính của KH cho NH biết đƣợc tiềm năng của DN, qua đó NH có thể xác định và thiết lập mối quan hệ tín dụng lâu dài với khách hàng. Làm cơ sở cho việc đánh giá xếp loại tín dụng, và có biện pháp trích, phòng ngừa hợp lý: một số chỉ tiêu của việc phân tích tài chính KH DN đƣợc Luan van 13 sử dụng để chấm điểm TD khách hàng. Qua việc phân tích tài chính DN, NH tiến hành chấm điểm KH để đƣa ra chính sách TD hợp lý.
Trong quá trình cấp và quản lý tín dụng của mình, CBTD cần phải nghĩ đến ba loại rủi ro là rủi ro mất vốn, rủi ro đóng băng các khoản cho vay, rủi ro về khả năng sinh lợi. Vì vậy khi tiến hành phân tích TCDN, mục tiêu phân tích của NH là đi vào phân tích từng chỉ tiêu riêng xoay quanh các loại rủi ro trên và phát hiện ra những cái gì đang rình mò NH nếu NH chấp nhận lời đề nghị cấp TD của KH để có quyết định chấp nhận, rút lui hay dừng lại trong chừng mực có thể đƣợc. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH TCDN CỦA NHTM. Phư ng pháp tỷ lệ Đây là phƣơng pháp truyền thống đƣợc sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính.