Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước. Chương 2: Thực trạng kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Chi cục Thuế quận Đống Đa.” 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƢỚC 1.“Một số vấn đề cơ bản về kiểm tra thuế 1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm tra thuế 1.
Khái niệm thuế và kiểm tra thuế Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934) trong cuốn Finances Publiques đã đưa ra khái niệm về thuế, đây được xem khái niệm cổ điển nhất, nổi tiếng nhất “Thuế là một khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm này đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là khoản đóng góp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế của Nhà nước”. Theo các nhà kinh điển: “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”.
Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại. Trên góc độ kinh tế học, thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của Nhà nước” 6 Trong hoạt động quản lý, kiểm tra là một chức năng không thể thiếu và có thể được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất. Kiểm tra là chức năng chung của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính chức năng của quản lý nhà nước, là hoạt động mang tính phản hồi (rà soát, nhiều khi là phản ứng lại) đối với chu trình quản lý nhằm phân tích, đánh giá, theo dõi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý đã đề ra.” “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng kiểm tra. Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung và đảm bảo tính tuân thủ của người nộp thuế nói riêng.
Thông qua phân tích, đánh giá tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, hoạt động kiểm tra thuế giúp phát hiện, ngăn chặn, xử lý những vi phạm về pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Từ đó, công tác quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.” Cần phân biệt kiểm tra thuế với thanh tra thuế: Thanh tra thuế là hoạt động của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật có liên quan đến nghĩa vụ thuế phải nộp với ngân sách Nhà nước. Kiểm tra thuế và thanh tra thuế có điểm giống nhau: Đều là những nội dung quan trọng của quản lý thuế; đều có mục đích là nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, phát hiện, xử lý những vi phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao của các chủ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý và đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện tiếp theo để đạt kết quả như mong muốn; đều có nội dung là kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế đối với đối tượng nộp thuế. Về phương pháp kiểm tra cũng có những điểm giống nhau, khi tiến hành cuộc thanh tra, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ, đó thực chất là kiểm tra.
Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm rõ vụ việc, lại lựa chọn được nội dung thanh tra. 7 Tuy nhiên, kiểm tra thuế và thanh tra thuế có những điểm khác nhau cơ bản Một là, Mục đích của thanh tra là phát hiện, ngăn chặn những hành vi trái pháp luật. Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai phạm của đối tượng kiểm tra để điều chỉnh và ngăn chặn những sai phạm đó ( sai phạm có thể vi phạm pháp luật, có thể chỉ là không đúng kế hoạch, không đúng yêu cầu…). Hai là về phương pháp tiến hành: Thanh tra thuế áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, … Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý.
Tiến hành thanh tra nhất thiết phải thành lập đoàn thanh tra trong khi kiểm tra có thể hoặc không phải thành lập đoàn kiểm tra Ba là, phạm vi kiểm tra thuế rộng hơn, xảy ra ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội và được thực hiện thường xuyên liên tục. Hoạt động thanh tra có phạm vi hẹp hơn vì hoạt động thanh tra là hoạt động kiểm tra ở giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế xã hội đã phát sinh. Bốn là, tính chất của thanh tra là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước. Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực quản lý Nhà nước, có thể là hoạt động quản lý thông thường.”Đặc điểm của kiểm tra thuế “Kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan thuế và có những đặc điểm sau Thứ nhất, phạm vi của hoạt động kiểm tra thuế tương đối rộng bởi đối tượng kiểm tra thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật thuế; bao gồm các tổ chức, cá nhân trong xã hội có hoạt động sản xuất kinh doanh, có các khoản thu nhập, tài sản hay có hành vi tiêu dùng thuộc diện chịu thuế theo quy định của các sắc lệnh về thuế.
Thứ hai, kiểm tra thuế là công tác khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của các đối tượng kiểm tra. Người nộp thuế thường xuyên tìm mọi biện 8 pháp nhằm tránh thuế, lách thuế và trốn thuế (kê khai thuế thấp hơn thực tế) gây khó khăn cho công tác kiểm tra thuế. Thứ ba, công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của người làm việc trong ngành thuế. Phạm vi điều chỉnh của kiểm tra thuế khá rộng, đối tượng kiểm tra thuế rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Do đó đòi hỏi công chức kiểm tra thuế phải vững về chuyên môn nghiệp vụ thuế và nắm vững được bản chất các hoạt động kinh tế khác. Đồng thời do đặc thù kiểm tra thuế tác động đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế và có không ít những tác động đến đến lợi ích của công chức thuế nên đòi hỏi phẩm chất đạo đức bản lĩnh của công chức kiểm tra thuế phải vững vàng. Nguyên tắc và mục đích kiểm tra thuế, các hình thức kiểm tra thuế 1.“Nguyên tắc kiểm tra thuế Kiểm tra thuế là việc vô cùng quan trọng, nên cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Thứ nhất, tuân thủ pháp luật.
Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất đó là trong quá trình kiểm tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo tính khách quan, công khai, dân chủ, khi kết luận một vấn đề phải có chứng lý rõ ràng, không suy diễn chủ quan. Đây cũng là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế; ngăn ngừa tình trạng làm trái pháp luật.” Thứ hai, trung thực, chính xác, khách quan. Đảm bảo chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn hay qui chụp một cách tùy tiện chủ quan.
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỉ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.” 9 “Thứ ba, công khai, dân chủ, kịp thời. Công khai trong hoạt động kiểm tra tức là phải được dân biết, dân bàn, dần làm, dân kiểm tra để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra trình bày ý kiến của mình, nhất là khi xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, cần tránh mọi biểu hiện tự mãn, áp đặt chủ quan, bất chấp ý kiến của người khác. Kịp thời cũng là nguyên tắc quan trọng trong kiểm tra nhằm nhanh chóng khắc phục những yếu kém, bất cập trong quản lý của Nhà nước.