CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ KHU VỰC CÔNG VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN - HỖ TRỢ NGƯỜI NỘP THUẾ 1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống KSNB Khái niệm kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỉ XX trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản: Các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ…Nhiều năm sau đó, kiểm soát nội bộ trở thành một khái niệm được các kiểm toán viên rất quan tâm trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính. Năm 1992, báo cáo COSO ra đời đã tạo lập một cơ sở lý thuyết cơ bản về kiểm soát nội bộ. Chính sự xuất hiện của báo cáo này đã đưa ra một định nghĩa, một cách hiểu chung được chấp nhận rộng rãi về kiểm soát nội bộ và hỗ trợ các nhà quản lý kiểm soát tốt hơn tổ chức của họ… Trong lĩnh vực công, kiểm soát nội bộ rất được xem trọng, nó là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước. Kiểm toán nhà nước ngày nay đã được biết đến và công nhận trên toàn thế giới, sự phát triển này kéo theo việc thừa nhận về tầm quan trọng của Cơ quan kiểm toán tối cao (SAI), đó là vai trò kiểm toán các tài khoản và hoạt động của chính phủ, thúc đẩy việc lành mạnh hóa trong quản lý tài chính và nâng cao chất lượng giải trình của chính phủ ở từng quốc gia.
Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về kiểm soát nội bộ áp dụng cho các cơ quan sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề kiểm soát nội bộ đặc thù trong tổ chức sự nghiệp. GAO đưa ra năm yếu tố về kiểm soát nội bộ bao gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát “Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán”. Với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các SAI, tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã góp phần rất lớn trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình.
INTOSAI là một tổ chức tự chủ, độc lập và phi chính trị được thành lập như một thể chế vĩnh viễn, trụ sở chính đặt tại Viên, Áo.2 Ý nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống kiểm soát nội bộ có nhiệm vụ tìm hiểu hệ thống quản lý của đơn vị, bao gồm cả những hoạt động chính thức hoặc không chính thức, nhằm đưa ra quy định, hướng dẫn về các nhân tố có thể tác động đến hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa rộng, kiểm soát nội bộ bao gồm thủ tục quản lý trang thiết bị hoặc những công cụ kiểm soát sản xuất, kinh doanh và phân phối. Thông tin của người chịu trách nhiệm kiểm soát nội bộ thường được thu thập và tổng hợp nhiều nguồn khác nhau như trao đổi với nhân viên cơ sở, điều tra thông qua bảng câu hỏi, bằng thực tế… Sau đó họ ghi lại những thông tin sơ bộ dưới dạng biểu đồ hình cột mô tả, tường thuật hoặc kết hợp cả hai hình thức trên nhằm đưa ra được một hình ảnh cụ thể để phục vụ cho công tác kiểm soát.3 Lợi ích và hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lợi ích của hệ thống Kiểm soát nội bộ (HTKSNB): - Hệ thống KSNB thực chất là sự tích hợp một hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý. - Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp các nhà lãnh đạo của một đơn vị quản lý được vấn đề của tổ chức, đảm bảo trong hoạt động và tổ chức cần xây dựng.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ giúp tổ chức giảm bớt các loại rủi ro như rủi ro không đáng trong một đơn vị. - Tạo môi trường kiểm soát trong sạch lành mạnh, giúp cho các nhà quản lý và nhân viên làm việc hiệu quả hơn. - Hệ thống kiểm soát nội bộ góp phần điều hòa hoạt dộng của đơn vị hợp lý theo ý muốn của các nhà quản lý. Tối ưu các nguồn lực mà tổ chức đang có.2 Hạn chế của hệ thống Kiểm soát nội bộ (HTKSNB): - Hệ thống kiểm soát nội bộ do các nhà quản lý thiết kế nhằm duy trì trạng thái hoạt động tốt nhất cho đơn vị vì vậy nó có hạn chế là được thiết kế theo quan điểm chủ quan của nhà quản lý không tránh khỏi hệ thống kiểm soát nội bộ quá cứng nhắc, không tuân theo quy định chuẩn nào.
10 - HTKSNB được thiết kế nhưng không phù hợp với tình hình hoạt động của đơn vị, gây lãng phí thất thoát. - HTKSNB được tạo ra hoạt động nhưng các nhân viên lại không thực hiện một cách tuân thủ, hay do môi trường kiểm soát của một tổ chức không lành mạnh. Các thủ tục kiểm soát không được duy trì một cách đều đặn. - HTKSNB thiết kế nhưng không bao quát hết được rủi ro của đơn vị.
Đặc biệt là sai sót của nhân viên. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị hoạt động công 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống KSNB trong hoạt động công Trong khu vực công, KSNB rất được quan tâm và xem trọng, nó là đối tượng được kiểm toán viên Nhà nước quan tâm đặc biệt. Một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Canada,. đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Trong chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 đã đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra 5 yếu tố về KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông, và Giám sát. Đến năm 1905, Rober Montgomery đồng thời cũng là sáng lập viên của công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery đã đưa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến KSNB trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán” Đến năm 1929 thuật ngữ “Kiểm soát nội bộ” được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin) theo đó KSNB được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) cũng đã đưa ra định nghĩa về KSNB.
Đặc biệt là sau vụ phá sản của các công ty lớn có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán như Công ty Mc Kesson & Robbins, Drayer Hanson… thì việc nghiên cứu và đánh giá về KSNB ngày càng được chú trọng. Năm 1953, tại Havana, Cuba, Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI – International Organization of Superme Audit Institutions) được thành 11 lập đã góp phần quan trọng trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình đó là: “Vai trò kiểm toán các tài khoản và hoạt động của chính phủ, thúc đẩy việc lành mạnh hóa trong quản lý tài chính và nâng cao chất lượng giải trình của chính phủ ở từng quốc gia”. Bên cạnh đó, INTOSAI còn là diễn đàn nhằm hợp tác, trao đổi những vấn đề cần quan tâm về chuyên môn và từ đó đưa ra những hướng dẫn cần thiết cho từng trường hợp cụ thể. Năm 1992, INTOSAI đã ban hành hướng dẫn về KSNB áp dụng cho khu vực công.
Tài liệu này đã đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2001, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB cho phù hợp với tất cả các đối tượng, phù hợp với xu thế phát triển gần đây trong KSNB và được công bố năm 2004 (INTOSAI 2004). Điều cần lưu ý trong tài liệu này là đã tích hợp các lý luận chung về KSNB của báo cáo COSO 1992. Năm 2013, INTOSAI tiếp tục được cập nhật và được công bố vào năm 2014 (INTOSAI 2013).
Đại hội các cơ quan kiểm toán tối cao quốc tế lần thứ 22 tổ chức tại các Vương quốc Ả rập, đóng góp của INTOSAI 2016 về tăng cường phòng chống tham nhũng cho chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ trong đơn vị hoạt động công 1.1 Theo hướng dẫn của INTOSAI 1992: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 2012): “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”.2 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2004: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 2014): “Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức. Sau đây là mục tiêu cần đạt được: 12 - Thực hiện các hoạt động một cách hợp lý kỷ cương, có đạo đức, có kinh tế, hiệu quả và thích hợp. - Thực hiện đúng trách nhiệm - Tuân thủ pháp luật hiện hành và các nguyên tắc, quy định - Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”.3 Theo hướng dẫn của INTOSAI 2013: Theo hướng dẫn của Tổ chức quốc tế các Cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI năm 2013): “Khái niệm về kiểm soát nội bộ của INTOSAI 2013 cũng giống như hướng dẫn của INTOSAI năm 2004; tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo có thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức”. Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI 2013 là: - Định nghĩa về kiểm soát nội bộ.
- Các tiêu chuẩn nền tảng được sử dụng để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ.