MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Ngành dược phẩm Việt Nam là một ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và có ý nghĩa xã hội rất to lớn. Trong những năm gần đây, khi khủng hoảng toàn cầu và dịch bệnh kéo theo sự đi xuống của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, ngành dược phẩm vẫn có sự tăng trưởng cao, với tỉ lệ trung bình khoảng 18,8%/năm giai đoạn 2009-20141, khoảng 13,8%/năm trong giai đoạn 5 năm 2015 – 20192, và chỉ chậm lại giai đoạn 2020-2021 do tác động của dịch bệnh Covid19. Nhân tố chính tác động đến xu hướng này do bản thân dược phẩm là sản phẩm thiết yếu không thể thay thế, cùng với sự nhận thức về chăm sóc sức khỏe của người dân được nâng cao.
Vì vậy, khi mức sống cải thiện và việc tiếp cận với các mặt hàng dược phẩm dễ dàng, đồng thời nhu cầu ngày càng cao của người dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dược phát triển. Tỉ lệ đóng góp của ngành cho GDP cả nước cũng tăng qua các năm và được dự báo tiếp tục giữ xu hướng này trong vòng 5 năm tới với sản lượng tiêu thụ thuốc tăng lên khoảng 16,1 tỷ USD vào năm 20263. Bên cạnh những kết quả tăng trưởng đáng ghi nhận, ngành dược Việt Nam vẫn còn tồn tại những vấn đề hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành. Tỷ lệ nhập khẩu dược phẩm còn ở mức cao, chiếm đến hơn 50% tổng nhu cầu của người tiêu dùng nội địa, đặc biệt phân khúc giá trị cao.
Trong khi đó, dù có tiềm năng lớn về quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ, dược phẩm sản xuất trong nước của các công ty dược phẩm Việt Nam chỉ chiếm được khoảng 45% thị trường, kim ngạch xuất khẩu còn rất thấp. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng quan trọng đến sức cạnh tranh của các công ty dược phẩm Việt Nam chính là hệ thống và phương thức tiêu thụ dược phẩm còn yếu về trình độ và công nghệ quản lý, thiếu sự liên kết thông tin. Tiêu thụ dược phẩm là khâu cuối cùng, trực tiếp quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh, công tác tiêu thụ sản phẩm tốt sẽ đảm bảo thu hồi vốn 1 Báo cáo ngành dược phẩm của FPTS (2017). 2 Báo cáo ngành dược phẩm của BSC (2020).
3 Báo cáo nghiên cứu thị trường của IBM (2021). TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 2 nhanh, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện để quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành ổn định, mặt khác doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm tạo nguồn tích lũy để đầu tư tái sản xuất mở rộng. Để ngành dược Việt Nam chiếm được thế chủ động, giảm sự tác động bởi dược phẩm nước ngoài, yêu cầu cải tiến, nâng cao trình độ của hệ thống công cụ quản lý nói chung, hệ thống kế toán nói riêng trong công tác tiêu thụ sản phẩm ở các công ty dược phẩm Việt Nam là vô cùng cấp thiết. Trong những năm qua, hệ thống kế toán Việt Nam đã được xây dựng và hoàn thiện cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
Năm 2014, Thông tư 200/2014/TT/BTC ra đời đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong công tác kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận vẫn còn tồn tại nhiều khác biệt và chưa phù hợp với các thông lệ và Chuẩn mực kế toán quốc tế. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả của công tác quản lý trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dược phẩm nói riêng. Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp là nội dung đòi hỏi có tính cập nhật cao, nhằm phù hợp với sự phát triển đa dạng của các phương thức sản xuất hiện đại và các công cụ phát sinh phức tạp.
Đề án áp dụng IFRS tại Việt Nam được Bộ Tài chính phê duyệt ngày 16/3/2020 có lộ trình trong giai đoạn 2022-2025 áp dụng tự nguyện và sau 2025 áp dụng bắt buộc với một số đối tượng doanh nghiệp. Việc chuyển đổi sang IFRS sẽ đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với các doanh nghiệp, nhất là trong công tác kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh. Các doanh nghiệp dược phẩm có những đặc điểm riêng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và khác biệt nhất định với các ngành kinh tế kỹ thuật khác, từ đó ảnh hưởng đến thông tin tài chính kế toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết với đòi hỏi cao về thông tin cung cấp trên BCTC. Nâng cao trình độ hệ thống kế toán, đặc biệt là kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các công ty dược phẩm niêm yết sẽ giúp cung cấp thông tin kịp thời và tin cậy cho nhà điều hành doanh nghiệp đưa ra kế hoạch kinh doanh phù TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 3 hợp.
Từ đó, có thể điều chỉnh hệ thống và phương thức tiêu thụ dược phẩm, tăng sức cạnh tranh của các công ty dược phẩm niêm yết, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững ngành dược Việt Nam. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại các công ty dược phẩm niêm yết ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu Tổng quan nghiên cứu của Luận án được tác giả nghiên cứu và tổng hợp mức độ của những vấn đề đã được nghiên cứu và xác định khoảng trống nghiên cứu dựa trên các vấn đề của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết, bao gồm: Quan điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh; việc vận dụng phương pháp kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh; nghiên cứu kế toán trong các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết và phương pháp nghiên cứu đối với kế toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh. Quan điểm ghi nhận doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh Nghiên cứu sự phát triển của các quan điểm khác nhau về bản chất của doanh “ thu, chi phí có thể nhận thấy sự thay đổi của các quan điểm này gắn với sự hình thành các lý thuyết và loại hình kế toán.
Để nghiên cứu bản chất của doanh thu cần đặt trong vấn đề xác định kết quả hoạt động của các lý thuyết và loại hình kế toán khác nhau. Trước đây, theo mô hình kế toán tĩnh, kết quả hoạt động được tiếp cận trên cơ sở định giá tài sản. Do vậy, vấn đề ghi nhận doanh thu, chi phí không được đặt ra như một vấn đề quan trọng đối với hệ thống kế toán. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ kế toán trong suốt thế kỷ 19 và giai đoạn trước đó.
Từ thế kỷ 20 đến nay, theo mô hình kế toán động, việc xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp vận dụng cách tiếp cận trên cơ sở giao dịch là chủ yếu, đồng thời có sự chi phối nhất định của quan điểm đánh giá tài sản. Trong đó, nâng cao tầm quan trọng của các khuôn khổ lý thuyết làm rõ bản chất và ghi nhận các TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 khoản doanh thu. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp của các phương thức sản xuất kinh doanh, việc ghi nhận kết quả kinh doanh cũng đi kèm với những quan điểm khác nhau trong việc tiếp cận với hoạt động kinh doanh thương mại mới. Quan điểm thứ nhất là tiếp cận doanh thu trên cơ sở giao dịch hay doanh thu phát sinh dựa trên cơ sở các hoạt động cơ bản, thường xuyên của doanh nghiệp.
Bản chất của doanh thu được tiếp cận gắn với các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán là tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Từ đó hình thành khái niệm về doanh thu là dựa trên chuyển giao rủi ro, lợi ích của hàng hóa, dịch vụ. Quan điểm này thể hiện trong các nghiên cứu của giáo sư Chatfile, giáo sư W.Bedford (1965), trong cách tiếp cận của FASB, IASB trước năm 2014 và các nước trên thế giới. Các nghiên cứu trong nước có quan điểm tiếp cận dựa trên giao dịch phát sinh, khi chuyển giao rủi ro và lợi ích gắn với hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng cũng được thể hiện rõ trong các luận án của Mai Ngọc Anh (2008), Văn Thị Thái Thu (2008), Trương Thanh Hằng (2014), Nguyễn Thị Thanh Loan (2014), Đỗ Minh Thoa (2015).
Đối tượng nghiên cứu trong luận án của Mai Ngọc Anh (2008) là dịch vụ vận tải đường biển; Văn Thị Thái Thu (2008) là hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn; Đỗ Minh Thoa (2015) là dịch vụ du lịch lữ hành. Các luận án này đều nghiên cứu doanh thu dịch vụ trong mối quan hệ với chi phí và kết quả kinh doanh, đề cập các nguyên tắc, cơ sở, phương pháp ghi nhận và trình bày các thông tin về chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh; mô tả thực trạng kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại một doanh nghiệp cụ thể hoặc ngành kinh doanh cụ thể. Từ đó đề xuất các giải pháp để hoàn thiện tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh như hoàn thiện môi trường pháp lý, hoàn thiện về tổ chức kế toán tài chính doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh theo các nội dung: Chứng từ, tài khoản và phương pháp kế toán, sổ kế toán và BCTC. Ngoài ra, các luận án còn đề cập đến công tác tổ chức kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán doanh thu theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 Nghiên cứu của Trương Thanh Hằng (2014) là một trong những nghiên cứu về kế toán doanh thu, chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách. Đây cũng là một hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở hợp đồng. Nghiên cứu này đề cập doanh thu, chi phí trên cả góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị. Doanh thu được ghi nhận dựa trên các điều kiện ghi nhận doanh thu theo IAS 18 và VAS 14.
Luận án cũng đưa ra các phương pháp để đo lường doanh thu vận tải hành khách là theo tỷ lệ phần trăm dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng.