Chương 1: Lý luận chung về hoạt động huy động vốn của NHTM Chương 2: Thực trạng tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thƣơng từ 2014 – 2016. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thƣơng, giai đoạn 2017-2020. 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm, vai trò và phân loại Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Để đƣa ra đƣợc định nghĩa về Ngân hàng thƣơng mại (NHTM), ngƣời ta phải dựa vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính đôi khi còn xem xét thêm cả đối tƣợng hoạt động. Do đó, mỗi quốc gia khác nhau, có thể có một khái niệm cụ thể về NHTM. Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “NHTM là những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thƣơng mại và các giá trị địa ốc, các phƣơng tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…”.
Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thƣờng xuyên nhận của công chúng dƣới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam năm 1997: “Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán”. “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nƣớc”. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhƣng khi phân tích khai thác 5 nội dung của các định nghĩa đó, ta dễ dàng nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tƣ và các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng.
Vai trò của Ngân hàng thương mại Nƣớc ta là một nƣớc có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo hƣớng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH – HĐH) rất cần đến NHTM với vai trò to lớn của nó. Quá trình CNH – HĐH của nƣớc ta hiện nay đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng, mở rộng đầu tƣ, từng bƣớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ tăng trƣởng kinh tế nhanh và lâu bền. Để thực hiện các mục tiêu phát triển nêu trên của nền kinh tế thị trƣờng thì vai trò của các NHTM càng đƣợc coi trọng. - NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Vốn đƣợc tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế.
NHTM chính là ngƣời đứng ra tiến hành tập trung nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế, và trở thành chủ thể quan trọng đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông qua nghiệp vụ tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, ngân hàng đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới qui trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động đem lại hiệu quả kinh tế; tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn và cạnh tranh càng mạnh mẽ, kinh tế sẽ càng phát triển. Nhƣ vậy, với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của quốc gia.
- NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường 6 Thị trƣờng đƣợc hiểu ở hai góc độ gồm có: thị trƣờng đầu vào và thị trƣờng đầu ra của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế nhƣ quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Để đáp ứng tốt nhất sự đòi hỏi của thị trƣờng, các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lƣợng lao động, mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý. Vì vậy , yêu cầu đặt ra là doanh nghiệp phải đƣợc trang bị đầy đủ vốn cần thiết. Nhƣng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính, buộc họ phải tìm kiếm vốn phục vụ chính họ.
NHTM sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn đó, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM đáp ứng vốn cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp duy trì và phát triển sản xuất thoả mãn nhu cầu của thị trƣờng về: giá cả, chủng loại, chất lƣợng, thời gian, địa điểm. Đồng thời giúp các nhà kinh doanh xây dựng chiến lƣợc quản lý doanh nghiệp từ đó tạo đƣợc chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Ngân hàng là cầu nối giữa Doanh nghiệp với thị trƣờng, là nơi cung cấp vốn giúp các Doanh nghiệp sản xuất mua đƣợc nguyên liệu và nhiên liệu ở thị trƣờng đầu vào; và cũng nhờ nguồn vốn của ngân hàng (qua nghiệp vụ bảo lãnh, cho vay…) xây dựng các chiến lƣợc để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm ở thị trƣờng đầu ra. - NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lƣợng tiền trong lƣu thông.
Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dắt dẫn các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trƣờng góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia nhƣ: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm, ổn định lãi suất, ổn định thị trƣờng tài chính, thị trƣờng ngoại hối, ổn định và tăng trƣởng kinh tế. Khi mà Ngân hàng trung ƣơng dùng các công cụ để thực thi 7 chính sách tiền tệ nhƣ: Chính sách tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng… đối với Ngân hàng thƣơng mại thì các ngân hàng càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các Ngân hàng thƣơng mại có thể thay đổi lƣợng tiền trong lƣu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng, bảo lãnh hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trƣờng mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ, kiềm chế lạm phát. - NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nhƣ hiện nay, dƣới áp lực cạnhtranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực về tài chính.
Vai trò của NHTM lại càng đƣợc thể hiện rõ rệt hơn, ngân hàng thƣơng mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nƣớc và thế giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nƣớc với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc đầu tƣ từ nƣớc ngoài vào trong nƣớc theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ thác đầu tƣ. giúp cho luồng vốn ra, vào một cách hợp lý. Các ngân hàng cũng có khả năng huy động đƣợc nguồn vốn từ các cá nhân và các tổ chức nƣớc ngoài góp phần bảo đảm đƣợc nguồn vốn cho nền kinh tế trong nƣớc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nƣớc có thể mở rộng hoạt động của họ ra nƣớc ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.
Bằng cách đó, các NHTM đã góp phần đƣa nền tài chính nƣớc nhà từng bƣớc bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Phân loại Ngân hàng thương mại a. Dựa vào hình thức sở hữu - Ngân hàng sở hữu tƣ nhân: là Ngân hàng do cá nhân thành lập bằng vốn của chính họ. Tại Việt Nam chƣa có loại hình này.
8 - Ngân hàng sở hữu nhà nƣớc: là Ngân hàng mà vốn sở hữu do Nhà nƣớc cấp. - Ngân hàng cổ phần: là loại Ngân hàng đƣợc thành lập dƣới hình thức công ty cổ phần, trong đó các doanh nghiệp nhà nƣớc, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế xã hội và các cá nhân cùng góp vốn kinh doanh. - Ngân hàng liên doanh: là Ngân hàng đƣợc thành lập bằng vốn góp của hai hay nhiều bên. Ở Việt Nam, loại hình này thƣờng đƣợc thực hiện giữa Ngân hàng trong nƣớc với Ngân hàng nƣớc ngoài để tận dụng các ƣu thế của nhau.
Dựa vào chiến lƣợc kinh doanh - Ngân hàng bán buôn: là ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tƣợng khách hàng tập đoàn, công ty chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. - Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại Ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng công ty và khách hàng cá nhân. Hầu hết các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam đều thuộc loại ngân hàng này. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có của NHTM Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình tạo vốn của NHTM. Nguồn vốn của NHTM bao gồm: - Vốn tự có: Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập đƣợc thuộc về sở hữu của ngân hàng (nó cũng còn đƣợc gọi là vốn chủ sở hữu). Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài để hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thành lập một ngân hàng.
Mặt khác, với chúc năng bảo vệ, vốn tự có đƣợc coi nhƣ là tài sản đảm bảo 9 gây lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trƣờng hợp ngân hàng gặp thua lỗ.