CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỀN VỀ MARKETING MIX TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 1. Khái niệm liên quan 1. Khách sạn Khách sạn là một loại hình tô chức hru trú có tầm quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Khách sạn có thê được xem là nơi sản xuất, bán và phục vụ khách hni trú nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách từ cơ bản nhất nhxr ngủ nghỉ, ăn uổng đến vui chơi, giải trí nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của du khách đen từ các quốc gia khác nhau, trình độ nghề nghiệp với các mục đích khác nhau.
Theo Nguyền Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hương (2008) [8] định nghĩa về khách sạn nhxr sau: “Khách sạn là cơ sở cung cấp dịch vụ hni trú (với đầy đủ tiện nghi), dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho quá trình khách hru trú lại qua đêm và thường được xây dựng tại các diêm du lịch”. Kinh doanh khách sạn Kinh doanh khách sạn có thê được xem là một trong những ngành nghề chính trong kinh doanh du lịch. Khi nắm được rõ bản chất của kinh doanh khách sạn thì quá trình tiếp cận, nghiên círu hoạt động cùa một doanh nghiệp kinh doanh khách sạn sẽ đạt hiệu quả hơn. Xuyên suốt quá trình phát triển du lịch, khái niệm “kinh doanh khách sạn” đã được các chxxyên gia phân tích dxrới nhiều cấp độ khác nhau.
Trxrớc hết, đây là hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm cung cấp chỗ nghi ngơi qua đêm cho khách có trả phí. Theo thời gian cùng với sự 13 phát triên kinh tế, yêu cầu cùa du khách ngày càng đa dạng cũng như có mức độ cao hơn, các tô chức kinh doanh khách sạn đã cung cấp dịch vụ ăn uống đê đem về nhiều lợi nhuận hơn cho khách sạn. Tại thời diêm này, kinh doanh khách sạn được hiểu là “hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghi ngơi và ăn uống cho khách”. Hoạt động kinh doanh du lịch sẽ khó phát triên nếu hoạt động kinh doanh khách sạn chi thỏa mãn những nhu cầu nghi ngơi và ăn uổng cùa con người.
Hiện nay, khái niệm chung nhất về kinh doanh khách sạn được Nguyễn Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hương (2008) [8] nêu rõ như sau: “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uổng và các dịch vụ bô sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí của khách hàng tại các diêm du lịch nhằm mục đích lợi nhuận”. Căn bản của hoạt động kinh doanh hru trú là việc cho thuê khu vực phòng ngủ cùng với hệ thống cơ sở vật chất đi kèm đê mang lại tiện nghi cho du khách trong chuyến đi cùa mình trong một thời gian cụ thê. Kinh doanh lưu trú là sự kết họp giữa việc dùng hệ thống cơ sở vật chất kỳ thuật và hoạt động phục vụ của đội ngũ nhân viên đê mang đến sự hài lòng cho du khách trong quá trình lưu trú, hay ở một mức độ cao hơn nữa là tạo ra trải nghiệm cho du khách. Chính vì vậy, hoàn toàn phù hợp khi cho rằng mức độ hài lòng của khách hàng là yếu tố quyết định giá cả của dịch vụ và hiệu quả kinh doanh của khách sạn.
Cùng với dịch vụ âm thực thì các dịch vụ bô sung cũng rất cần thiết đê hoàn thiện quá trình đáp ứng những nhu cầu tất yếu cùa du khách. Dù được gọi là dịch vụ bô sung nhưng chính những dịch vụ này sẽ góp phần khăng định đăng cấp của khách sạn. Đặc điếm của kinh doanh khách sạn Theo Nguyễn Quyết Thắng (2014) [20], kinh doanh khách sạn, khi xét trên phương diện tính chất hoạt động vận hành, sẽ mang một số đặc diêm cụ thê như sau: Đầu tiên, hoạt động kinh doanh khách sạn có tính chu kỳ, việc này bị ảnh hường bởi tính thời vụ, loại hình khách sạn, thị trường khách mà khách sạn nham đến. Ví dụ điên hình là các khách sạn ở miền Trung thông thường sẽ đông khách vào mùa hè (mùa nắng) và vắng khách vào mùa mira.
Tính chu kỳ này rất dễ nhận thấy ờ một số khách sạn vì nó mang tính lặp đi lặp lại tuần hoàn, đòi hỏi ban quản lý khách sạn phải có rứữrng kế hoạch phù hợp nhằm chuân bị cho vận hành mùa cao diêm và có các chirơng trình khuyến mãi nhằm tối đa hóa công suất phòng trong mùa thấp diêm. Thứ hai, hoạt động kinh doanh khách sạn mang tính liên tục 24/24 giờ và xuyên suốt 365 ngày. Chính tính chất này đòi hòi hoạt động khách sạn phải duy trì chất lượng phục vụ cao độ nhằm đảm bảo tất câ các khách hàng đều hài lòng với dịch vụ được cung cấp. Tiếp đến, kinh doanh khách sạn yêu cầu một số vốn đầu tư khá lớn.
Sự sang trọng của các trang thiết bị được lắp đặt bên trong khách sạn chính là nguyên nhân đây chi phí đầu tư ban đầu của công trình khách sạn lên cao. Tuy nhiên, nếu cơ sở vật chất kỳ thuật của khách sạn càng được đầu tư tốt thi đây cũng là một yếu tổ càng nâng cao đăng cấp của khách sạn. Ngoài ra, một lực lượng lao động trực tiếp tương đối lớn cần được đáp ứng vì sản phàm cùa khách sạn phần lớn là dịch vụ hay mang tính chất phục vụ. Quan trọng hơn, điều này khó có thê cơ giới hóa được mà được thực hiện bởi nguồn nhân lực trong khách sạn.
Cũng chính vì vậy, khách sạn phải sử dụng một sổ lượng lớn lao động phục vụ tạrc tiếp. 15 Bên cạnh đó, kinh doanh khách sạn có xu hướng chọn lọc đổi tượng khách. Thông thường mỗi khách sạn đều nhắm đen một phân khúc khách hàng nhất định và từ đó tập trung khai thác đối tirợng này. Việc chọn lọc này thường được thê hiện thông qua cơ chế về giá phòng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cung cấp cho phân khúc khách hàng chính của khách sạn.
Tiếp đến, hoạt động của các bộ phận nghiệp vụ có tính độc lập tương đối trong một quy trình phục vụ khách hàng cùa khách sạn. Do tính chất nghiệp vụ của các bộ phận lễ tân, buồng phòng, nhà hàng. trong khách sạn mang tính đặc thù riêng nên hoạt động của các bộ phận này có tính độc lập tương đối. Tuy nhiên những hoạt động này lại nằm trong toàn bộ một chu trình phục vụ khách từ lúc khách bắt đầu liên lạc tìm hiêu thông tin về khách sạn, đen lúc khách đến nhận phòng, khách lưu trú sử dụng dịch vụ trong khách sạn và cuối cùng là khách rời khách sạn.
Tất cả các bộ phận tuy độc lập nhưng lại có sự tương tác chặt chẽ xuyên suốt quá trình phục vụ khách. Cuối cùng, kinh doanh khách sạn phục vụ đa dạng đối tượng khách hàng. Mặc dù có tính chọn lọc nhtr đề cập ờ trên nlurng trong từng phân khúc khách hàng vẫn có sự đa dạng về dân tộc, giới tính, tuổi tác, sở thích, phong tục tập quán. Chính vì vậy, khách sạn cần nghiên cứu, nắm bắt tâm lý khách hàng đê đáp írng các nhu cầu của khách hàng.
Sản phàm của khách sạn và đặc điếm sản phàm của khách sạn Theo Nguyễn Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hương (2008) [8], sản phâm khách sạn là tất cả những dịch vụ và hàng hóa mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về hm trú, ăn uống và các nhu cầu bô sung khác đê thu lợi nhuận kê từ khi khách đăng ký cho đến khi tiêu dùng xong và rời khỏi khách sạn. Theo Nguyễn Quyết Thắng (2014) [20], các đặc diêm nôi bật cùa sản phàm trong khách sạn được kê đến như sau: 16 Sản phẩm cùa khách sạn là sự kết hợp của sản phâm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ (sự tham gia phục vụ cùa nhân viên khách sạn). Sản phẩm dịch vụ trong khách sạn mang tính vô hình. Sản phẩm dịch vụ trong khách sạn không thê lưu kho cất trữ.
Sản phâm dịch vụ trong khách sạn đòi hòi chất lượng cao. Sản phàm trong khách sạn mang tính tông hợp: quá trình “sản xuất” và “tiêu dùng” diễn ra đồng thời. Sản phẩm trong khách sạn chi được thực hiện trong điều kiện cơ sở vật chất kỳ thuật nhất định. Ý nghĩa của kinh doanh khách sạn Cũng theo Nguyền Quyết Thắng (2014) [20], kinh doanh khách sạn mang những ý nghĩa nhất định về mặt kinh tế và về mặt xã hội cụ thê như sau: về mặt kinh tế, đây là một trong những hoạt động chính của hoạt động kinh doanh du lịch.
Nhờ kinh doanh dịch vụ lưu trú, hoạt động này đã góp phần thúc đây một khoản tiêu dùng nhất định của người dân được sử dụng vào dịch vụ và hàng hóa của các khách sạn tại diêm du lịch và hơn thế nữa còn thu hút được ngoại tệ. Bên cạnh đó, không thê không kê đến việc kinh doanh khách sạn làm tăng cường vốn đầu tư trong và ngoài mrớc. Hơn thế nữa, chính các cơ sở kinh doanh khách sạn là đối tác lớn của nlữrng ngành kinh doanh khác trong kinh tế. Chính vì thế, kinh doanh khách sạn góp phần gia tăng GDP của một vùng lãnh thô nhất định và của cả một đất nước.
Cuối cùng, như đã đề cập ở trên, vì kinh doanh khách sạn đòi hòi một khối hrợng lớn nguồn lao động trực tiếp nên phát triên kinh doanh khách sạn góp phần giải quyết được việc làm cho người lao động. về mặt xã hội, nhờ vào khả năng đáp írng nhu cầu nghỉ ngơi trong thời gian đi du lịch, kinh doanh khách sạn góp phần tái tạo siic lao động cho người lao động. Thêm vào đó, khi tham gia vào hoạt động du lịch nói chung và sừ 17 dụng sản phâm kinh doanh khách sạn nói riêng, khách du lịch có cơ hội tìm hiêu về di tích lịch sừ văn hóa của đất nước mình và đất nước bạn, gặp gỡ giao lưu trực tiếp với người bản địa là nhân viên khách sạn. Chăng những vậy, phần lớn khách sạn là nơi ký kết các văn bản chính trị, kinh tế quan trọng trong nước và thế giới.
Từ những điều này cho thấy kinh doanh khách sạn có ý nghĩa góp phần vào việc thiết lập tình hữu nghị gnra nhiều quốc gia. Tuy nhiên, không thê phù nhận một sổ ảnh hưởng tiêu cực của ngành kinh doanh khách sạn trên phương diện về tài nguyên môi trường của nơi kinh doanh khách sạn. Đồng thời việc kinh doanh khách sạn cũng mang tính rủi ro cao trong các trường hợp chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.