Chương 1: Tổng quan về đề tài “Hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải đường bộ tại Công ty TNHH Thương mại và Vận tải Sinbad Việt Nam Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cung ứng dịch vụ vận tải đường bộ tại công ty logistics Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải đường bộ của Công ty TNHH Thương mại và Vận tải Sinbad Việt Nam Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động cung ứng dịch vụ vận tải của Công ty Công ty TNHH Thương mại và Vận tải Sinbad Việt Nam 4 CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ TẠI CÔNG TY LOGISTICS 2.1 Dịch vụ vận tải tại các doanh nghiệp Logistics 2.1 Doanh nghiệp và dịch vụ logistics 2.1 Khái niệm, vị trí và chức năng doanh nghiệp logistics Logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp – logistikos. Đây không phải là một lĩnh vực mới mẻ, xuất hiện lần đầu trong lĩnh vực quân đội mà từ thời Napoleon đã từng định nghĩa: Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội. Đến ngày nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế và dần trở nên phổ biến, trở thành một ngành dịch vụ chiếm vai trò không thể thiết trong sự vận động của giao thương quốc tế. Được đưa vào nghiên cứu và áp dụng trong nhiều lĩnh vực, hiện nay có khá nhiều khái niệm về Logistics.
Tuy nhiên hầu hết các khái niệm đều chỉ ra rằng: “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyển cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.” Dịch vụ logistics Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại mang tính chất liên ngành do dịch vụ này bao gồm nhiều hoạt động và các hoạt động này có sự liên quan chặt chẽ, hỗ trợ nhau. Ngoài ra, dịch vụ logistics có liên quan đến các hoạt động như: giao nhận, vận tải, kho bãi và sử dụng hệ thống cơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận tải. Theo Điều 233 Luật Thương mại 2005, dịch vụ logistics được định nghĩa như sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác theo thỏa thuận với khách hàng để được hưởng thù lao". Doanh nghiệp logistics Doanh nghiệp Logistics là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, thực hiện hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics hoặc toàn bộ chức năng logistics.
Đây là những nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp cho khách hàng, trực tiếp quản lý và kiểm soát toàn bộ hoạt động logistics do khách hàng thuê hoặc tự thực hiện. Các doanh nghiệp này thường nằm ngoài doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc là công ty con của một tập đoàn và tùy thuộc vào năng lực cũng như chiến lược của mỗi doanh nghiệp mà họ có thể lựa chọn cung cấp một, một số hoặc tất cả các dịch vụ logistics. Trong nghiên cứu này, doanh nghiệp Logistics được hiểu: "là doanh nghiệp cung cấp một, một số hoặc tất cả các dịch vụ logistics giúp thực hiện hiệu quả quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa theo yêu cầu của khách hàng" (Lâm Tuấn Hưng, 2020). 5 Vị trí của doanh nghiệp logistics Hình 2.1 Vị trí của DN logistics trong chuỗi cung ứng và trong các giao dịch (Nguồn: An Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 2018) Trong các chuỗi cung ứng, các DN logistics đóng vai trò như các mắt xích kết nỗi các dòng vận động về hàng hóa và thông tin giữa các nhà cung cấp và nhà phân phối; các DN này ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hoạt động thuê ngoài phát triển bùng nổ như hiện nay.
Các DN logistics giữ vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa nhiều bên dựa vào những năng lực sẵn có của mình. Dưới đây là một số vai trò điển hình của các DN Logistics: Doanh nghiệp logistics đóng vai trò cố vấn, giúp các DN trong chuỗi cung ứng tập trung vào việc phát triển năng lực cốt lõi, tăng cường tính chuyên môn hóa. Doanh nghiệp logistics đóng vai trò như một trụ cột trung gian trong mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Giúp các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giảm chi phí đầu tư vào logistics và các tài sản logistics, giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh và cung ứng hàng hóa, từ đó mở rộng nhanh chóng mạng lưới kinh doanh và thị trường.
Doanh nghiệp logistics hỗ trợ thực hiện các tác nghiệp liên quan tới dòng vật chất (vận chuyển, kho bãi, xếp dỡ.) và đi kèm với dòng thông tin trong quá trình thực hiện các tác nghiệp này. Các sản phẩm dịch vụ của công ty logistics Theo điều 4 Nghị định số 140/2007/ND - CP ngày 5/9/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics: "dịch vụ logistics theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại được phân loại như sau: Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container 6 Dịch vụ kho bãi và lưu trữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm các hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó, hoạt động cho thuê và thuê mua container. Tùy theo các loại tiêu chí khác nhau, dịch vụ logistics được phân chia thành các loại hình khác nhau: Theo tính chuyên môn hoá, dịch vụ logistics được chia thành 4 loại: Dịch vụ kho bãi: Bao gồm dịch vụ bốc xếp hàng hóa và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải bao gồm các hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa và các dịch vụ bổ trợ khác như tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin, cho thuê container,. Dịch vụ vận tải: Bao gồm dịch vụ vận tải đường biển, đường hàng không, đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, đường ống.
Dịch vụ giao nhận: Bao gồm các hoạt động vận chuyển hàng hóa từ nơi gửi đến nơi nhận như gom hàng, lưu kho, vận chuyển, đóng gói, bốc xếp hàng hóa,. Các dịch vụ logistics khác: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kĩ thuật, bán buôn, bán lẻ, dự trữ hàng, lưu kho, gom hàng, phân phối, giao hàng và các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. Theo vị trí các bên tham gia, dịch vụ logistics được chia thành 4 loại: Logistics bên thứ nhất (1PL- First Party Logistics): là hoạt động logistics do người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực thiện để đáp ứng nhu cầu logistics của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này thường có sẵn phương tiện vận tải, kho bãi, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và nhân sự để thực hiện các hoạt động logistics của mình.
Logistics bên thứ hai (2PL- Second Party Logistics): là hoạt động logistics do nhà cung cấp dịch vụ logistics đơn lẻ trong chuỗi cung ứng các hoạt động logistics như vận chuyển, kho bãi, thủ tục hải quan,. Logistics bên thứ ba (3PL- Third Party Logistics): là hoạt động logistics trọn gói (bundles of services) do bên cung cấp thay mặt chủ hàng tổ chức thực hiện và quản lý những hoạt động như xuất nhập khẩu, giao nhận hàng hóa, luân chuyển lưu trữ hàng hóa, xử lý thông tin hàng hóa giúp khách hàng kiểm soát hiệu quả chuỗi cung ứng. Logistics bên thứ tư (4PL- Fourth Party Logistics): Các công ty 4PL còn được gọi là Lead Logistics Provider hay LLP. Đây là người kết hợp các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các đơn vị logistics khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics nhằm tạo ra một chuỗi cung ứng tinh gọn, hiệu quả và tiết kiệm 7 chi phí.
Hoạt động của dịch vụ logistics 4PL bao gồm: quản lý và phân tích số lượng lớn dữ liệu, giám sát việc quản lý vận chuyển của các bên 3PL và các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển khác, giám sát hoạt động lưu kho, hoặc vận hành bất cứ phần nào của chuỗi cung ứng.2 Dịch vụ vận tải đường bộ 2.1 Khái niệm dịch vụ vận tải đường bộ Theo giáo trình Logistics Kinh doanh Trường Đại học Thương Mại “Vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí hàng hóa và con người từ nơi này đến nước khác bằng các phương tiện vận tải" Như vậy có thể nói rằng, không phải mọi di chuyển đều là vận tải, mà vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích lợi nhuận. Còn xét theo quan điểm quản trị logistics, vận chuyển hàng hóa là sự di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu cầu mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, có thể nói rằng vận chuyển và vận tải là sợi dây liên kết các hoạt động kinh doanh tại các địa điểm khác nhau của doanh nghiệp, giúp kết nối hoạt động một cách trơn tru, nhanh chóng. Tổng hợp lại, trong khóa luận sử dụng khái niệm sau: Vận tải hàng hóa bằng đường bộ là sự di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng bằng các phương tiện vận tải đường bộ.
Điều này có nghĩa là, các doanh nghiệp có nhu cầu vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ có thể sử dụng các phương tiện vận tải của mình nếu có hoặc có thể thuê bên thứ ba hoặc đại lý nếu không có đủ khả năng thực hiện vận chuyển.2 Đặc điểm dịch vụ vận tải đường bộ Vận tải bằng đường bộ là hình thức vận tải hàng hóa phổ biến và thông dụng nhất trong các loại hình vận tải. Ô tô trở thành phương tiện vận tải phối hợp được với hoạt động của các loại phương tiện vận tải khác như: đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không.