Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HÀNG NHẬP KHẨU 1. Khái quát chung về trị giá hàng nhập khẩu 1.Hàng nhập khẩu và xác định trị giá hàng nhập khẩu Hàng nhập khẩu là hàng hóa được sản xuất tại một nước khác, xuất khẩu(XK) ra khỏi nước đó và NK về Việt Nam qua các cửa khẩu hay địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu. Trị giá hàng nhập khẩu : Ở Việt Nam trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa XK, NK phục vụ cho mục đích tính thuế, thống kê hải quan; và theo Điều 8 Luật thuế XK, thuế NK số 107/2016/QH13 ngày 6/4/2016, trị giá hàng NK là trị giá hải quan theo quy định tại Luật Hải quan. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã ký các Hiệp định thương mại song phương hay đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, theo WTO thì trị giá hàng NK là trị giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa được bán để XK đến nước NK. Với cương vị là một thành viên của WTO, Việt Nam tuân thủ theo các quy định đã được quốc tế chấp nhận và sử dụng để xác định trị giá hàng NK. Xác định trị giá hàng nhập khẩu: Là việc dựa trên những nguyên tắc, phương pháp xác định trị giá đã được quốc tế công nhận và nội luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đối với hàng NK từ nước ngoài để kiểm tra trị giá doanh nghiệp khai báo và xây dựng mức giá phù hợp để áp dụng cho hàng NK. Phương pháp xác định trị giá hàng nhập khẩu Trên thực tế đã có các phương pháp xác định trị giá tính thuế với các điều kiện và nguyên tắc, trình tự áp dụng cụ thể.
Các quốc gia đã nghiên cứu thông lệ thương mại quốc tế và thống nhất xây dựng 06 phương pháp xác định trị giá tính thuế đối với hàng NK.Phương pháp trị giá giao dịch Trị giá tính thuế của hàng hóa NK phải là trị giá giao dịch, đó là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hóa khi hàng hóa được bán để XK đến nước NK. Trên thực tế giá giao dịch có thể có nhiều loại (FOB,CIF, 6 DDU,…), trong những loại giá này không thể bao hàm hết những chi phí mà người NK thực sự phải trả hoặc đã trả. Vì vậy để đảm bảo tính công bằng khi xác định trị giá hàng NK các quốc gia đã quy định cụ thể các loại chi phí có thể bị cộng vào giá giao dịch. Cụ thể các khoản phải cộng đó là: - Chi phí hoa hồng và môi giới, trừ hoa hồng mua hàng; - Chi phí về thùng chứa hàng được coi là đồng nhất với hàng hóa đang được xác định trị giá, nhằm phục vụ các hoạt động của cơ quan Hải quan; - Chi phí đóng gói, kể cả chi phí vật liệu và chi phí nhân công; - Trị giá được phân bổ thích hợp của những hàng hóa và dịch vụ dưới đây do người mua cung cấp trực tiếp hay gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá để sử dụng trong sản xuất và bán để XK hàng NK, trong phạm vi trị giá này chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán: + Nguyên vật liệu, bộ phận cấu thành hàng hóa, các phụ tùng và các hàng hóa tương tự hợp thành trong hàng hóa NK; + Các công cụ, khuôn đúc, khuôn rập và các hàng hóa tương tự được sử dụng trong sản xuất hàng NK; + Nguyên vật liệu tiêu hao trong hoạt động sản xuất hàng NK; + Thiết kế kỹ thuật, thiết kế triển khai, thiết kế mỹ thuật, bản vẽ thiết kế và các sơ đồ và phác đồ được lập ra ở bất cứ nơi nào ngoài nước NK và cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng NK; - Tiền bản quyền và phí giấy phép liên quan đến hàng hóa được xác định trị giá; những chi phí này do người mua phải trả, trực tiếp hay gián tiếp, như điều kiện cho giao dịch bán hàng hóa đang được xác định trị giá, trong phạm vi các chi phí này chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán; - Trị giá của bất cứ phần lãi nào, phát sinh sau khi hàng NK được bán lại, được chuyển nhượng hoặc được sử dụng, được chuyển trực tiếp hay gián tiếp cho người bán; Các khoản phải cộng trên đây là các khoản cố định.
Tức là khi xác định giá ngoài các chi phí như vừa nêu ở trên thì không loại chi phí nào khác được cộng thêm vào giá giao dịch. Mặc dù phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa NK là phương pháp các nước thành viên WTO bắt buộc phải áp dụng nhưng vẫn cho phép Hải quan các nước NK được nghi ngờ giá giao dịch là không chính xác và được áp dụng 7 các phương pháp thay thế khác. Tuy nhiên để đảm bảo rằng Hải quan không lạm dụng quyền này để tuy tiện từ chối dùng phương pháp tính thuế theo giá giao dịch, WTO đã quy định những điều kiện và tình huống cụ thể mà Hải quan được phép không công nhận trị giá giao dịch. Đó là: - Không có hành vi mua bán.
Ví dụ giao dịch hàng đổi hàng, chuyển hàng từ các đơn vị khác nhau của cùng một công ty; - Khi có những hạn chế đối với người mua về việc bán hoặc sử dụng hàng hóa đó, trừ các trường hợp hạn chế do luật pháp hay các cơ quan có thẩm quyền tại nước NK áp đặt, hoặc yêu cầu (ví dụ pháp luật yêu cầu về bao bì cho lưu thông hàng hóa); Giới hạn về khu vực địa lý tại đó hàng hóa được bán nhượng lại (ví dụ hợp đồng quy định chỉ được phân phối hàng hóa đó trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam); hoặc những hạn chế không ảnh hưởng đáng kể đến trị giá của hàng hóa (ví dụ đối với loại hàng hóa mới, điều khoản hợp đồng quy định không được bán hàng hóa đó trước một thời điểm nhất định); - Khi hoạt động bán hàng, hay giá cả, phải phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đó người ta không thể xác định được trị giá của những hàng hóa cần được xác định trị giá. Ví dụ nếu người bán định giá giao dịch với điều kiện người mua cũng phải nhập một loại hàng hóa khác với số lượng nhất định; - Sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng NK, người NK phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào đó từ doanh thu mà họ đạt được, dù là trực tiếp hay gián tiếp, cho người bán; - Người mua và người bán có quan hệ đặc biệt với nhau, và giá cả bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ đó. Ví dụ nếu người bán và người mua là công ty mẹ- con- chi nhánh của công ty xuyên quốc gia và mối quan hệ này có ảnh hưởng đến giá hàng hóa. Bên cạnh đó, WTO cũng quy định 05 phương pháp tính thuế hải quan tiếp theo thay thế phương pháp trị giá giao dịch trong trường hợp Hải quan có nghi ngờ về trị giá giao dịch và quyết định không thừa nhận trị giá khai báo của doanh nghiệp là trị giá tính thuế.
Các phương pháp này được áp dụng một cách tuần tự, lần lượt, khi không áp dụng được phương pháp trước mới áp dụng phương pháp sau. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt 8 Khi trị giá tính thuế của hàng hóa NK không thể xác định được theo phương pháp trị giá giao dịch thì trị giá tính thuế sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa NK giống hệt được bán để XK cho cùng một nước NK vào cùng một thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định trị giá. Hàng hóa giống hệt là những hàng hóa giống nhau về mọi khía cạnh, kể cả các đặc tính vật lý, chất lượng và danh tiếng. Những khác biệt nhỏ bên ngoài không ảnh hưởng đến đánh giá hàng hóa là hàng hóa giống hệt, trừ khi chúng thỏa mãn theo định nghĩa hàng hóa giống hệt.
Để được coi là hàng hóa giống hệt thì hàng hóa đó phải được sản xuất cùng một nước với hàng hóa đang được xác định trị giá. Nếu hàng hóa giống hệt do nhiều người sản xuất thì chỉ được xem xét trong trường hợp không có hàng hóa do cùng người sản xuất so với hàng hóa đang được xác định trị giá. Khi sử dụng phương pháp này phải đảm bảo trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt có cùng cấp độ thương mại và (hoặc) có cùng số lượng với hàng hóa đang được xác định trị giá. Nếu không tìm được hàng hóa giống hết như vậy thì trị giá của hàng hóa đang cần xác định giá sẽ phải có sự điều chỉnh cho phù hợp về sự khác nhau của các yếu tố đó và sự khác nhau về cước vận tải, bảo hiểm, xếp dỡ do có số lượng khác nhau và (hoặc) do sử dụng các phương thức vận tải khác nhau.
Việc khác nhau về thời điểm NK giữa hàng hóa giống hệt và hàng hóa đang cần xác định trị giá cũng là một yếu tố cần xem xét để điều chỉnh cho phù hợp. Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự Nếu không thể xác định được trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch hay phương pháp trị giá giao dịch của hàng giống hệt, thì trị giá tính thuế nhằm mục đích tính thuế của hàng hóa NK phải là trị giá giao dịch của hàng tương tự bán để XK cho cùng một nước NK vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng đang được xác định trị giá hải quan. Hàng hóa tương tự là những hàng hóa, dù không giống nhau về mọi khía cạnh, nhưng có các đặc trưng giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệu cấu thành giống nhau, như thế làm cho những hàng hóa này thực hiện được các chức năng tương tự và có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch thương mại. Chất lượng của hàng hóa, danh tiếng uy tín hàng hóa và sự hiện diện của nhãn hiệu thương mại là những yếu tố nên được xem xét trong quá trình đánh giá hàng hóa 9 đó có phải là mặt hàng tương tự hay không.