Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản trị công, việc chuyển đổi cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học công lập sang mô hình tự chủ tài chính là một xu thế tất yếu nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục. Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh là cơ sở đào tạo đầu ngành trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với lịch sử hơn 57 năm xây dựng và phát triển, đào tạo 4 chuyên ngành chính gồm Giáo viên, Huấn luyện viên, Y học Thể dục thể thao và Quản lý Thể dục thể thao. Với quy mô đào tạo năm 2013 đạt 3.635 sinh viên hệ chính quy và tổng số hơn 30.000 cán bộ cử nhân, 1.000 thạc sĩ và tiến sĩ đã tốt nghiệp, nhà trường giữ vai trò nòng cốt trong việc cung cấp nguồn nhân lực thể thao chất lượng cao cho cả nước.
Thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và định hướng tiếp cận Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phân loại là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Theo Quyết định số 3937/QĐ-BVHTTDL ngày 07/11/2013, mức kinh phí ngân sách nhà nước giao ổn định cho trường giai đoạn 2013-2015 đạt 28.400 triệu đồng cho năm đầu thời kỳ ổn định. Tuy nhiên, trước áp lực lạm phát, yêu cầu hiện đại hóa trang thiết bị tập luyện chuyên dụng và quy định nâng mức lương cơ sở, nguồn thu sự nghiệp của trường vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng cơ sở vật chất hiện có. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Nguyễn Ngọc Toại, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Thị Nga tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2016, tập trung phân tích thực trạng công tác tự chủ tài chính giai đoạn 2013-2015 tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh, đánh giá các chỉ tiêu thu nhập tăng thêm từ mức 500.000 đồng lên 600.000 đồng cho mỗi hệ số lương, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao tính chủ động tài chính cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Cơ sở lý luận của đề tài được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị tài chính công và cơ chế quản lý đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Thông tư số 71/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính. Tự chủ tài chính trong trường đại học công lập được hiểu là việc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trao quyền chủ động điều hành, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động thu, chi, quản trị tài sản và phân phối kết quả tài chính trong khuôn khổ pháp luật nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động sự nghiệp.
Theo mức độ bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 3 loại: đơn vị tự bảo đảm toàn bộ chi phí thường xuyên (tỷ lệ tự bảo đảm từ 100% trở lên), đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí thường xuyên (tỷ lệ tự bảo đảm từ 10% đến dưới 100%), và đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí (tỷ lệ tự bảo đảm dưới 10%). Mức tự bảo đảm chi thường xuyên được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số nguồn thu sự nghiệp chia cho tổng số chi hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Khung mô hình nghiên cứu đi sâu phân tích 6 trụ cột nội dung cốt lõi của công tác tự chủ tài chính:
- Xây dựng và thực thi Quy chế chi tiêu nội bộ;
- Tự chủ trong công tác lập và phân bổ dự toán thu - chi ngân sách;
- Tự chủ trong khai thác, mở rộng và quản lý các nguồn thu sự nghiệp;
- Tự chủ trong quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí chi thường xuyên và không thường xuyên;
- Phân phối kết quả tài chính trong năm thông qua việc trích lập 4 quỹ (Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25%, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi với mức trích tối đa không quá 3 tháng lương thực hiện);
- Tự chủ trong quản lý, khai thác hiệu quả tài sản công và trích khấu hao tài sản cố định.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học toàn diện. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách, đề án vị trí việc làm và số liệu đào tạo giai đoạn 2013-2015 của Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh cùng các văn bản pháp luật chuyên ngành. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi tiêu chuẩn đối với cán bộ quản lý và giảng viên trong trường.
Quy trình chọn mẫu tuân thủ phương pháp chọn mẫu có chọn lọc (purposive sampling). Căn cứ theo tiêu chuẩn phương pháp luận của Salvatore (2006), quy mô mẫu chọn lọc đạt tỷ lệ trên 5% tổng thể và số lượng mẫu tuyệt đối lớn hơn 30 sẽ đảm bảo độ tin cậy thống kê. Tại thời điểm nghiên cứu, tổng số cán bộ, viên chức của trường là 316 người; tác giả đã phát ra 50 phiếu điều tra và thu về 48 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 96% và tương đương 15,19% tổng thể cán bộ toàn trường).
Hệ thống phương pháp xử lý dữ liệu bao gồm:
- Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân trên phần mềm chuyên dụng để phản ánh quy mô và cơ cấu tài chính.
- Phương pháp so sánh: Đánh giá sự biến động qua các năm bằng số tuyệt đối và số tương đối để xác định xu hướng tăng giảm của các khoản mục kinh phí.
- Phương pháp thang đo Likert 5 mức độ: Sử dụng thang đo từ 1 (rất tốt) đến 5 (chưa tốt) với giá trị khoảng cách phân lớp đồng đều là 0,8 điểm (tương ứng: 1,00-1,80: Rất tốt; 1,81-2,60: Khá tốt; 2,61-3,40: Bình thường; 3,41-4,20: Chưa tốt lắm; 4,21-5,00: Chưa tốt) nhằm lượng hóa ý kiến đánh giá của cán bộ về từng nội dung tự chủ.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2013-2015 tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, cơ cấu đội ngũ nhân sự có sự chuyển dịch rõ rệt gắn liền với chính sách tinh giản biên chế và kiện toàn bộ máy. Số lượng cán bộ trong biên chế của trường tăng từ 200 người năm 2013 lên 206 người năm 2014 và đạt 216 người năm 2015 (tăng 4,8% trong năm 2015 so với năm 2014). Ngược lại, số lao động hợp đồng dài hạn trên một năm giảm mạnh từ 35 người năm 2013 xuống còn 25 người năm 2014 và chỉ còn 18 người năm 2015 (mức giảm lên tới 48,57% sau 2 năm). Lao động hợp đồng mùa vụ cũng được tinh gọn từ 87 người năm 2013 xuống còn 82 người năm 2015.
Thứ hai, quy mô tuyển sinh và nguồn thu học phí bộc lộ dấu hiệu sụt giảm nhẹ qua các năm. Năm 2013, chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy là 876 sinh viên với tổng quy mô đào tạo chính quy đạt 3.635 sinh viên. Tuy nhiên, tổng quy mô tuyển sinh toàn trường năm 2014 giảm 2% (đạt 98% so với năm 2013) và năm 2015 tiếp tục giảm 5,2% (đạt 94,8% so với năm 2014), tạo áp lực trực tiếp lên nguồn thu học phí và các khoản thu dịch vụ đào tạo liên quan.
Thứ ba, chính sách thực hành tiết kiệm và phân phối kết quả tài chính đã từng bước cải thiện thu nhập cho người lao động. Thu nhập tăng thêm chi trả cho cán bộ, viên chức tăng đều đặn từ mức 500.000 đồng/hệ số lương năm 2012 lên mức 550.000 đồng/hệ số lương năm 2013, và chạm mốc 600.000 đồng/hệ số lương trong năm 2014. Điều này chứng minh hiệu quả bước đầu của việc ban hành Quy chế chi tiêu nội bộ và áp dụng cơ chế khoán kinh phí văn phòng phẩm, điện nước, vệ sinh giảng đường.
Thứ tư, cơ cấu mẫu điều tra phản ánh tính đại diện chuyên môn rất cao. Trong 48 cán bộ tham gia khảo sát, có 34 cán bộ giữ chức vụ quản lý (chiếm 68,75%) và 14 cán bộ chuyên môn khác (chiếm 31,25%). Về độ tuổi, nhóm cán bộ từ 31 đến 50 tuổi chiếm áp đảo với 83,33% (trong đó độ tuổi 31-40 tuổi có 25 người, chiếm 52,08%; độ tuổi 41-50 tuổi có 15 người, chiếm 31,25%). Tỷ lệ nhân sự có kinh nghiệm thực tế sâu sắc giúp các đánh giá về thang đo quản trị tài chính đạt độ chuẩn xác cao.
Thảo luận kết quả
Khi xem xét tổng thể dữ liệu thu chi, các phát hiện thực tế có thể được trình bày rõ nét qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu và bảng tổng hợp chênh lệch thu - chi thường xuyên. Tỷ trọng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên giai đoạn 2013-2015 luôn ở mức 28.400 triệu đồng mỗi năm, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn thu hoạt động. Điều này cho thấy Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh vẫn phụ thuộc đáng kể vào trợ cấp ngân sách nhà nước và thuộc nhóm đơn vị sự nghiệp tự chủ một phần ở mức trung bình.
So sánh với các bài học kinh nghiệm điển hình được phân tích trong luận văn:
- Trường Đại học Thương Mại đã đạt mức độ tự chủ tài chính 91,7% năm 2011 (75.262 triệu đồng), 87,2% năm 2012 (112.670 triệu đồng) và bứt phá lên mức 100,2% năm 2013 (tổng thu 168.000 triệu đồng). Năm 2013, trường đã trích lập các quỹ lên tới 30.557 triệu đồng (Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp chiếm 37%, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập chiếm 33%, Quỹ phúc lợi chiếm 28% và Quỹ khen thưởng chiếm 2%), đưa thu nhập bình quân của cán bộ tăng gấp 2 lần.
- Trường Đại học Bách khoa Hà Nội ghi nhận mức độ tự chủ thực tế đạt 87,6% năm 2012 với tổng thu 326.488 triệu đồng (vượt 19,4% so với dự toán giao). Đội ngũ 1.264 giảng viên đã đóng góp nguồn thu dịch vụ khoa học công nghệ rất lớn, giúp trường trích lập Quỹ khen thưởng - phúc lợi 30.999 triệu đồng (bằng 2,2 tháng lương thực hiện) và chi trả thu nhập tăng thêm 37.557 triệu đồng (tương ứng 30% lương cơ bản).
Nguyên nhân chính khiến Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh chưa đạt mức độ tự chủ cao như các đơn vị bạn là do đặc thù ngành đào tạo thể dục thể thao đòi hỏi chi phí đầu tư sân bãi, nhà tập, dụng cụ chuyên dùng rất lớn nhưng khả năng thương mại hóa dịch vụ và liên kết đào tạo còn hạn chế. Hoạt động của 4 trung tâm trực thuộc, Viện Khoa học Thể dục thể thao và Trạm y tế chưa phát huy hết tiềm năng tạo nguồn thu dịch vụ ngoài ngân sách.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và đối chiếu với các mô hình tự chủ thành công, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác tự chủ tài chính tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh:
Thứ nhất, hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ và tối ưu hóa định mức chi tiêu. Ban Giám hiệu chủ trì cùng Phòng Tài vụ rà soát, sửa đổi quy chế chi tiêu nội bộ định kỳ trước quý I hàng năm; phân định rõ định mức khoán văn phòng phẩm, chi phí xăng dầu, điện nước cho 7 phòng ban, 6 khoa chuyên môn và 19 bộ môn trực thuộc. Mục tiêu đặt ra là tiết kiệm từ 10% đến 15% tổng chi phí quản lý hành chính trong giai đoạn 2016-2020 để bổ sung nguồn chi trả thu nhập tăng thêm.
Thứ hai, đa dạng hóa và mở rộng các nguồn thu dịch vụ sự nghiệp. Trung tâm Đào tạo vận động viên, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh và các khoa chuyên môn cần chủ động liên kết với các liên đoàn thể thao, địa phương để mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, dịch vụ chuyển giao khoa học huấn luyện thể thao và cho thuê cơ sở vật chất nhà thi đấu ngoài giờ giảng dạy. Mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp ngoài học phí chính quy lên mức 35% đến 40% tổng thu của trường vào năm 2020.
Thứ ba, tăng cường hiệu quả quản lý, khai thác tài sản công và trích lập các quỹ tài chính đúng quy chuẩn. Phòng Quản trị phối hợp với Phòng Tài vụ thực hiện kiểm kê, đánh giá lại 100% danh mục tài sản cố định, thực hiện trích khấu hao đối với toàn bộ trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ theo Thông tư số 71/2006/TT-BTC. Đảm bảo trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đạt tỷ lệ tối thiểu 25% từ chênh lệch thu chi để tái đầu tư nâng cấp hạ tầng sân bãi tập luyện.
Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn của bộ máy quản lý và kế toán tài chính. Phòng Tổ chức cán bộ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng định kỳ 100% cán bộ phòng Tài vụ về kỹ năng quản trị tài chính hiện đại, cập nhật các quy định mới theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và hệ thống chuẩn mực kế toán công trong giai đoạn 2016-2018, bảo đảm tính minh bạch và chuẩn xác trong phân bổ dự toán.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng sau:
Thứ nhất, Ban Giám hiệu và Hội đồng trường tại các trường đại học công lập thuộc khối ngành Văn hóa, Nghệ thuật và Thể dục Thể thao. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn về việc chuyển đổi mô hình tự chủ tài chính loại 2, giúp xây dựng phương án tự chủ phù hợp với đặc thù chi phí đào tạo thực hành cao.
Thứ hai, Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính và Kế toán trưởng tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Tài liệu đóng vai trò là cẩm nang hướng dẫn chi tiết phương pháp xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, kỹ thuật khoán chi hành chính và quy trình trích lập 4 quỹ tài chính theo đúng quy định của Bộ Tài chính.
Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Công trình cung cấp hệ thống phương pháp luận nghiên cứu hoàn chỉnh, phương pháp chọn mẫu khảo sát thực tế và cách ứng dụng thang đo Likert 5 mức độ trong lượng hóa hiệu quả quản trị tài chính.
Thứ tư, các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Số liệu và phân tích từ luận văn là căn cứ thực tiễn giá trị để đánh giá tác động của Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và hoàn thiện các thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đối với các cơ sở đào tạo đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
Luận văn nghiên cứu mô hình tự chủ tài chính tại cơ sở đào tạo nào và trong giai đoạn nào?
Luận văn tập trung phân tích thực trạng công tác tự chủ tài chính tại Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh, cơ sở đào tạo trọng điểm trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Khung thời gian thu thập dữ liệu và phân tích chuyên sâu kéo dài trong 3 năm, từ năm 2013 đến năm 2015.
Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh thuộc loại hình tự chủ tài chính nào theo quy định?
Căn cứ theo Quyết định số 3937/QĐ-BVHTTDL ngày 07/11/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhà trường được xếp vào nhóm đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (đơn vị loại 2), với mức ngân sách nhà nước cấp năm đầu thời kỳ ổn định 2013-2015 là 28.400 triệu đồng.
Mức thu nhập tăng thêm của cán bộ, giảng viên tại trường biến động ra sao trong giai đoạn nghiên cứu?
Nhờ thực hiện tốt Quy chế chi tiêu nội bộ và thực hành tiết kiệm, thu nhập tăng thêm chi trả từ chênh lệch thu chi của trường đã tăng trưởng đều đặn: từ mức 500.000 đồng/hệ số lương năm 2012 lên mức 550.000 đồng/hệ số lương năm 2013, và đạt 600.000 đồng/hệ số lương vào năm 2014.
Quy mô mẫu khảo sát của luận văn được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính khoa học?
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chọn lọc theo chuẩn Salvatore (2006) trên tổng thể 316 cán bộ, giảng viên. Mẫu khảo sát phát ra 50 phiếu và thu về 48 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 96%), trong đó cán bộ quản lý chiếm 68,75% và 83,33% người được hỏi nằm trong độ tuổi 30-50 giàu kinh nghiệm thực tế.
Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ các trường đại học tự chủ tiêu biểu là gì?
Kinh nghiệm từ Trường Đại học Thương Mại (đạt tự chủ 100,2% năm 2013) và Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (tự chủ 87,6% năm 2012) cho thấy chìa khóa thành công là phải chủ động đa dạng hóa dịch vụ đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ và kiểm soát chặt chẽ cơ cấu chi thường xuyên.
Kết luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý về cơ chế tự chủ tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục đại học theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và Nghị định số 16/2015/NĐ-CP.
- Phân tích chi tiết bức tranh tài chính của Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015 với mức ngân sách cấp 28.400 triệu đồng và quy mô đào tạo trên 3.600 sinh viên đại học chính quy.
- Đo lường và lượng hóa thành công đánh giá của 48 cán bộ quản lý, giảng viên thông qua thang đo Likert 5 mức độ đối với 6 nội dung tự chủ tài chính trọng yếu.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ, thương mại hóa dịch vụ thể dục thể thao và chuẩn hóa đội ngũ kế toán tài chính.
- Khẳng định lộ trình tất yếu chuyển đổi từ cơ chế tự bảo đảm một phần kinh phí sang nâng cao mức độ tự chủ toàn diện chi thường xuyên trong giai đoạn tiếp theo.
Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tự chủ tài chính với nhiệm vụ chính trị đào tạo thể thao thành tích cao của quốc gia. Các cơ sở đào tạo đại học và đơn vị sự nghiệp công lập có thể áp dụng ngay mô hình quản trị này trong kế hoạch tài chính giai đoạn 2016-2020 để tối ưu hóa nguồn lực, nâng cao thu nhập cho người lao động và khẳng định vị thế trong hệ thống giáo dục đại học hội nhập.