Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Như Xuân. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện Như Xuân. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 1. Khái niệm của thuế SDĐPNN Theo Điều 10 của Luật đất đai năm 2013 quy định nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất: a) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan; c) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; g) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; h) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; i) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; 6 k) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở;[10, tr.7] Thuế SDĐPNN là loại thuế thu hàng năm (bằng tiền hay hiện vật) mà tổ chức, cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.7] Thuế SDĐPNN là loại thuế thu vào hoạt động SDĐPNN, nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng nhà, đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, bảo đảm công bằng trong việc sử dụng nhà, đất và nguồn thu ngân sách Nhà nước. Xét ở góc độ quan hệ sở hữu và sử dụng nó mang tính chất là một khoản thu về từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa một bên là Nhà nước, một bên là các tổ chức, cá nhân sử dụng nhà đất. Đặc điểm của thuế SDĐPNN Cũng như các sắc thuế khác, thuế SDĐPNN có các đặc điểm chung của thuế và một số đặc điểm đặc thù cụ thể: - Nộp thuế SDĐPNN là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có quyền sử dụng hoặc trực tiếp SDĐPNN để ở, để xây dựng công trình, để sản xuất kinh doanh.
- Nộp thuế SDĐPNN là nghĩa vụ bắt buộc đối với tổ chức, cá nhân, hộ gia đình SDĐPNN. Hành vi trốn thuế, gian lận thuế đều là hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý về hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. - Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chỉ phải nộp thuế SDĐPNN đối với việc SDĐPNN mà thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định của pháp luật; còn SDĐPNN nhưng đất đó không thuộc đối tượng chịu thuế thì tổ chức, cá nhân, hộ gia đình không phải nộp thuế SDĐPNN (như đất do cơ sở tôn giáo sử dụng, đất xây dựng cơ sở y tế, giáo dục, đất làm nghĩa trang, nghĩa địa. 7 - Thuế SDĐPNN có tính chất động viên chủ thể có quyền sử dụng hoặc trực tiếp SDĐPNN có hiệu quả.
Thông qua việc thu thuế khuyến khích chủ thể có quyền sử dụng đất phải sử dụng hiệu quả bằng việc đầu tư sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế. - Thuế được thu hàng năm với mức thuế suất thấp, tính bằng tỷ lệ phần (%) trên giá đất tính thuế của từng mảnh đất hoặc theo mức thu cố định cho mỗi đơn vị diện tích sử dụng, có phân biệt theo vị trí, mục đích sử dụng đất. Chủ thể SDĐPNN ở những vị trí có khả năng sinh lời lớn, mang lại lợi nhuận cao cho người sử dụng thì phải đóng thuế cao hơn chủ sử dụng đất ở những vị trí kém sinh lời. Vai trò của thuế SDĐPNN Đất đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là điều kiện tiên quyết cho sự sống của con người và các loài động thực vật trên Trái đất.
Đất là tài nguyên quốc gia vô cùng quý báu, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Ngoài vai trò là tư liệu sản xuất chủ của ngành nông nghiệp, đất giữ vai trò chiến lược trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Nếu không có đất thì con người không có nơi sinh sống và sẽ không có bất kỳ một ngành nào và không thể có sự tồn tại của loài người. Hiện nay hoạt động của con người đều dựa vào đất và đều tiến hành trên mặt đất vì vậy đối với mỗi quốc gia đất là nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá đối với con người, nó cung cấp các loại quặng, than, kim loại và phi kim, đất để sản xuất vật liệu xây dựng (cát, sỏi, đá, gạch, làm đồ gốm.
Thuế SDĐPNN đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước, góp phần đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước như xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, thực hiện chính sách an sinh xã hội, duy trì quân đội, bộ máy hành 8 chính Nhà nước. Góp phần điều tiết cung cấp bất động sản và bình ổn giá cả thị trường bất động sản. Cùng với các sắc thuế khác, thuế SDĐPNN góp phần tăng cường quản lý Nhà nước đối với sử dụng bất động sản. Việc đánh thuế SDĐPNN cũng là một cách điều tiết thu nhập, tránh tình trạng một người có quyền sử dụng nhiều đất nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả.
Giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động kinh doanh bất động sản, đảm bảo thị trường bất động sản phát triển lành mạnh. Góp phần chống tham nhũng. Nhà nước có thể quản lý được đất đai, nhà cửa của cán bộ công chức, tránh được các giao dịch bất động sản “ngầm” (tặng, cho, đưa hối lộ bằng quyền sử dụng đất ở những địa điểm đẹp). Như vậy đất sử dụng phi nông nghiệp tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của đời sống kinh tế, phục vụ xã hội loài người.
Đất phi nông nghiệp và cùng với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan trọng nhất để hình thành các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước, là nguồn lực cơ bản để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, đưa nước ta trở thành nước có nền công nghiệp phát triển. Nội dung cơ bản của chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành Căn cứ Luật số 48/2010/QH12 Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Ban khóa 12, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010; có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012; thay thế Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1992; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế nhà, đất năm 1994; Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01/07/2011 của Chính phủQuy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; Thông tư 153/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thuế SDĐPNN.Văn bản hợp nhất 10/VBHN-BTC năm 2017 hợp nhất Thông tư hướng dẫn về Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Đối tượng chịu thuế 9 Đối tượng chịu thuế bao gồm: - Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị. - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.
- Đất phi nông nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh. [3] Đối tượng không chịu thuế Đất phi nông nghiệp không sử dụng vào mục đích kinh doanh thuộc đối tượng không chịu thuế bao gồm: - Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thủy lợi; đất xây dựng công trình văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ; [1] [3] - Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng; - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; - Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; - Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật. Người nộp thuế Người nộp thuế SDĐPNN bao gồm: (1) NNT là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế; (2) Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người đang sử dụng đất là NNT .[3] Ngoài ra, Luật thuế SDĐPNN cũng quy định trong một số trường hợp cụ thể hoặc đặc biệt thì người nộp thuế được xác định như thế nào. Căn cứ tính thuế 10 - Giá tính thuế: được xác định như sau: 1.