CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1. MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT 1. Mô hình công ty mẹ - công ty con a. Khái niệm mô hình công ty mẹ - công ty con Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 25 (VAS 25), công ty được đầu tư trở thành công ty con khi một trong các điều kiện dưới đây được thỏa mãn: - Công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết; - Trong các trường hợp sau đây, quyền kiểm soát vẫn được thực hiện ngay cả khi công ty mẹ nắm giữ ít hơn 50% quyền biểu quyết tại các công ty con: (1) các nhà đầu tư khác thỏa thuận dành cho công ty mẹ hơn 50% quyền biểu quyết, (2) công ty mẹ có quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động theo quy chế thỏa thuận, (3) công ty mẹ có quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm hoặc bãi nhiệm đại đa số các thành viên hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương, (4) công ty mẹ có quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương.
Như vậy, có thể nêu khái niệm: mô hình công ty mẹ - công ty con là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh được thực hiện bởi sự liên kết và chi phối lẫn nhau giữa các công ty có tư cách pháp nhân độc lập thông qua việc đầu tư và góp vốn. Trong tổ hợp kinh tế này, công ty nào thực sự có tiềm lực mạnh nhất về khả năng tài chính, bí quyết công nghệ, thương hiệu và thị phần thì sẽ nắm giữ quyền kiểm soát đối với các công ty khác và trở thành công ty mẹ, còn các công ty nào nhận vốn góp đầu tư và bị kiểm soát bởi công ty mẹ sẽ trở thành công ty con. Đặc điểm mô hình công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ và các công ty con đều là các doanh nghiệp độc lập, có tư 9 cách pháp nhân đầy đủ, có vốn và tài sản riêng, bình đẳng với nhau trước pháp luật và quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng. Công ty mẹ có lợi ích kinh tế nhất định liên quan đến hoạt động của công ty con, bởi lẻ sự liên kết giữa công ty mẹ và các công ty con là liên kết về vốn, tài sản và thông qua các công cụ của thị trường.
Công ty mẹ thực hiện quyền kiểm soát, chi phối các công ty con tương ứng với tỷ lệ vốn góp, vốn cổ phần đầu tư ở công ty con bằng các hình thức như quyền bỏ phiếu chi phối đối với các quyết định của công ty con, quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo điều hành công ty. Vị trí công ty mẹ và công ty con chỉ trong mối quan hệ giữa hai công ty với nhau và chỉ mang tính tương đối, nghĩa là công ty con này hôm nay là công ty con của công ty mẹ nhưng ngày mai có thể là công ty liên kết hay hoàn toàn độc lập với công ty mẹ, hoặc công ty con này có thể là công ty mẹ của công ty khác. Trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con nói chung là trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp hay cổ phần của công ty mẹ trong công ty con. Nhưng do mối quan hệ có tính chất chi phối các quyết định của công ty con, nên luật pháp nhiều nước đã buộc công ty mẹ phải liên đới chịu trách nhiệm về những ảnh hưởng của công ty mẹ đối với công ty con.
Về mặt lý thuyết, mô hình quan hệ này sẽ tạo cho cơ cấu tổ chức của các công ty trong nhóm có chiều sâu không hạn chế, tức là: công ty mẹ, công ty con, công ty cháu,…ở mỗi cấp đều có các đơn vị hạch toán độc lập và phụ thuộc. Các mối liên kết trong mô hình công ty mẹ - công ty con Mô hình công ty mẹ - công ty con có ba mối liên kết chủ yếu sau đây: liên kết chủ yếu bằng vốn, liên kết theo dây chuyền sản xuất kinh doanh, liên 10 kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh. - Liên kết chủ yếu bằng vốn: Công ty mẹ thường là những công ty có tiềm lực mạnh về tài chính, chẳng hạn như: ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty tài chính,…và chỉ thuần túy đầu tư vốn vào các công ty con, không tổ chức sản xuất kinh doanh mà chủ yếu tập trung vào việc giám sát tài chính. Trong mô hình liên kết này, công ty mẹ sẽ tiến hành thôn tính một số công ty bằng cách mua lại toàn bộ hoặc phần lớn số cổ phần của các công ty này.
Thông qua việc nắm giữ cổ phần chi phối, công ty mẹ nắm giữ quyền lãnh đạo các công ty này trong việc đưa ra các quyết sách về nhân sự, tài chính, định hướng sản xuất và kinh doanh, chiến lược phát triển,…biến chúng thành các công ty con của mình. - Liên kết theo dây chuyền sản xuất kinh doanh: Công ty mẹ là công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở một ngành nghề, vừa trực tiếp kinh doanh, vừa thực hiện hoạt động đầu tư vào các công ty con. Trong mô hình liên kết này, công ty mẹ có tiềm lực mạnh về tài chính, thiết bị, công nghệ - kỹ thuật, thị trường và sẽ thực hiện chức năng trung tâm. Chẳng hạn như: xây dựng chiến lược kinh doanh, phát triển sản phẩm, quy hoạch ngành hàng, huy động và phân bổ nguồn vốn đầu tư, thay đổi cơ cấu tài sản để phát triển kinh doanh, xây dựng các định mức tiêu chuẩn để áp dụng, đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức phân công công việc cho các công ty con trên cơ sở hợp đồng kinh tế,…Sự phối hợp giữa công ty mẹ và các công ty con được thực hiện thông qua chiến lược kinh doanh.
- Liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh: Trong mô hình liên kết này, công ty mẹ là cơ quan nghiên cứu ứng dụng lớn, lấy việc phát triển công nghệ mới làm đầu mối để chi phối sự liên kết. Các công ty con là cơ sở để sản xuất và kinh doanh có nhiệm vụ triển khai, ứng dụng nhanh chóng những kết quả nghiên cứu công nghệ mới của công ty mẹ để 11 biến công ty mới này thành sản phẩm có ưu thế trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của toàn bộ tập đoàn đó chính là khả năng liên kết từ nghiên cứu đến ứng dụng. Việc liên kết giữa các công ty sẽ được thực hiện dựa trên những cơ sở khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu kinh doanh.
Song cơ sở quan trọng nhất vẫn là quan hệ chi phối về tài chính. Xác định quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con Quyền kiểm soát được xem là tồn tại khi Công ty mẹ nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các Công ty con trên 50% quyền biểu quyết ở Công ty con, trừ những trường hợp đặc biệt khi có thể chứng minh được rằng việc nắm giữ nói trên không gắn liền với quyền kiểm soát. Cụ thể: - Công ty mẹ đầu tư trực tiếp vào công ty con: Trong tình huống này, quyền kiểm soát của công ty mẹ được xác định tương ứng với tỷ lệ quyền biểu quyết của công ty mẹ trong công ty con, và vì vậy việc xác định quyền kiểm soát của công ty mẹ được thực hiện theo công thức: I Qt = x 100 V Trong đó: + Qt: Tỷ lệ % quyền biểu quyết trực tiếp của công ty mẹ ở công ty con + I: Tổng vốn đầu tư trực tiếp của công ty mẹ ở công ty con +V: Tổng vốn điều lệ của công ty con Nếu công ty mẹ là công ty cổ phần thì: I = P x Mg V = T x Mg Trong đó: + P: Số cổ phiếu có quyền biểu quyết mà công ty mẹ nắm giữ 12 + T: Tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty con đang lưu hành + Mg: Mệnh giá cổ phiếu của công ty con - Công ty mẹ đầu tư gián tiếp vào công ty con thông qua một công ty con khác trong tập đoàn: Theo VAS 25 thì một công ty cũng có thể trở thành công ty mẹ khi nó đầu tư vốn gián tiếp vào công ty nào đó thông qua một công ty con khác trong tập đoàn và công ty mẹ nắm giữ trên 50% quyền biểu quyết trong công ty con đầu tư gián tiếp. Trong tình huống này, tỷ lệ quyền biểu quyết của công ty mẹ trong công ty con đầu tư gián tiếp được xác định theo công thức: Ig Qg = x 100 Vg Trong đó: + Qg: Tỷ lệ % quyền biểu quyết gián tiếp của công ty mẹ ở công ty con + Ig: Tổng vốn góp của công ty con đầu tư trực tiếp trong công ty con đầu tư gián tiếp + Vg: Tổng vốn điều lệ của công ty con đầu tư gián tiếp - Công ty mẹ vừa đầu tư trực tiếp và vừa đầu tư gián tiếp vào một công ty con thông qua một công ty con khác: Công ty mẹ có thể đạt được quyền kiểm soát công ty con thông qua hoạt động vừa đầu tư trực tiếp, vừa đầu tư gián tiếp vào một công ty con thông qua một công ty con khác.
Với tình huống đầu tư này thì tỷ lệ quyền biểu quyết của công ty mẹ trong công ty con sẽ được xác định theo công thức: Q = Qt x Qg Trong đó: + Q: Tỷ lệ (%) quyền biểu quyết của công ty mẹ ở công ty con được đầu tư kết hợp trực tiếp và gián tiếp 13 + Qt: Tỷ lệ (%) quyền biểu quyết trực tiếp của công ty mẹ ở công ty con được đầu tư kết hợp + Qg: Tỷ lệ (%) quyền biểu quyết của công ty mẹ ở công ty con được đầu tư kết hợp thông qua công ty con đầu tư trực tiếp e. Xác định tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ đối với công ty con Nếu các bên không có thỏa thuận nào khác thì về cơ bản, tỷ lệ lợi ích của công ty mẹ tương đương tỷ lệ quyền kiểm soát của công ty mẹ.