Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu 3 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương Chương 5: Giải pháp - Kết luận - Kiến nghị. LVTS Quản trị kinh doanh 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm có liên quan 2. Khái niệm về thuế: Thuế là một phạm trù kinh tế, xuất hiện gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Nhà nước muốn duy trì sự tồn tại của mình cần phải có nguồn tài chính để đảm bảo cho các khoản chi tiêu. Do đó, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình để buộc người dân phải đóng một phần thu nhập của mình cho NSNN. Hình thức đóng góp để tạo nên nguồn tài chính cho Nhà nước này gọi là thuế. Phụ thuộc vào bảo chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng mà các nhà kinh tế học có nhiều quan điểm về thuế khác nhau.
Thuế, theo Karl Marx, là cơ sở kinh tế của Nhà nước, là khoản đóng góp nghĩa vụ bắt buộc để nuôi dưỡng Nhà nước và là nguồn sống đối với Nhà nước. Samuelson và Nordhaus (1977), thuế là một dạng cưỡng bức quan trọng, toàn bộ công dân đều chịu gánh nặng trên vai để được hưởng phần hàng hóa công do Chính phủ cung cấp. Theo Wilson (1984), thuế nếu được hiểu dưới góc độ phân phối thu nhập, là hình thức phân phốiLVTS và phân Quản trịsảnkinh phối lại tổng doanh phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Như vậy, thuế có thể hiểu là một khoản nộp của cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế phải đóng cho Nhà nước để Nhà nước trang trải cho các chi tiêu công của Nhà nước.
Thuế có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao vì đây được xem là nghĩa vụ bắt buộc với mọi chủ thể trong nền kinh tế. Theo điều 3, Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019 cho rằng: Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế. Từ khái niệm thuế trên cho thấy, Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các tổ chức, cá nhân đóng góp cho nhà nước nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước. Thuế có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, là công cụ tập trung chủ yếu nguồn thu cho NSNN, giúp Nhà nước có nguồn thu để đảm bảo cho các khoản chi tiêu công, phục vụ quá trình điều hành và phát triển đất nước.
Thuế đồng thời cũng là công cụ tham gia vào quá trình điều tiết kinh tế vĩ mô. Cụ thể, thông qua thuế, Nhà nước khuyến khích sản xuất, kinh doanh thông qua thu thuế thấp hoặc đánh thuế cao với những hàng hóa cần hạn chế…Thông qua việc đánh thuế, Nhà 5 nước còn thực hiện điều tiết đối với thu nhập các tầng lớp xã hội đánh thuế cao của người giàu để hỗ trợ người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội trong quá trình phân phối. Ngoài ra, thuế còn là công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện thu thuế theo đúng quy định của pháp luật, các cơ quan thuế phải nắm được số lượng, quy mô hoạt động của các cơ sở kinh doanh.
Từ quá trình này, cơ quan thuế có thể phát hiện ra những sai phạm của chủ thể kinh doanh để có hướng xử lý phù hợp. Khái niệm về kiểm tra thuế Theo Hồ Hoàng Trường (2012), kiểm tra thuế là hoạt động xem xét tình hình thực tế, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí lệ phí để có thể nhận xét đánh giá ưu nhược điểm nhằm nâng cao hiệu lực của thuế hơn nữa. Mức độ thấp hơn thanh tra: kiểm tra với thời gian ngắn, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế. Thời gian tiến hành ngắn thường 5 ngày.
Nội dung và phương pháp đơn giản: Kiểm tra tờ khai thuế tháng, quý, năm so sánh số liệu trên tờ khai thuế với dữ liệu trên hệ thống máy tính của cơ quan thuế, kiểm LVTS Quản trị kinh doanh tra tính pháp lý của hồ sơ khai thuế, đối chiếu số liệu giũa các trang của từng tờ khai và giữa các tờ khai với nhau…Trong quá trình kiểm tra nếu có phát hiện dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì phải kiến nghị lên lãnh đạo quản lý. Vai trò của kiểm tra thuế. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý thuế. Đặc biệt, trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế hiện nay, kiểm tra thuế lại càng trở nên quan trọng trong hệ thống quản lý thuế.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, qua kiểm tra thuế phát hiện những nhầm lẫn, sai sót của NNT và của công chức thuế để nhắc nhở, chấn chỉnh; đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế. Thứ hai, thông qua kiểm tra thuế để phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế, trốn thuế, lậu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số thuế theo quy định pháp luật vào NSNN. Điều này, cũng góp phần đảm bảo công bằng trong thực hiện nghĩa vụ thuế giữa những NNT khác nhau. Thứ ba, thông qua kiểm tra thuế cảnh báo, ngăn ngừa các hành vi trốn thuế, lậu thuế.
Với việc làm tốt công tác kiểm tra thuế, CQT đánh tín hiệu cho NNT biết nếu vi phạm pháp luật sẽ bị phát hiện và bị xử phạt. Bởi vậy, NNT phải cân nhắc giữa lợi ích có 6 thể đạt được của việc trốn thuế (nếu không bị phát hiện) với khả năng bị phát hiện qua kiểm tra và bị xử phạt. Thứ tư, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện pháp luật thuế. Qua kiểm tra sẽ phát hiện ra trong pháp luật thuế hiện nay có những điểm nào còn bất cập, gây khó khăn cho NNT khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng như gây khó khăn cho cán bộ thuế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.
Từ đó, cán bộ kiểm tra thuế có thể đưa ra những kiến nghị với các cấp có thẩm quyền nhằm hoàn thiện pháp luật thuế cho phù hợp với thực tế. Thứ năm, kiểm tra thuế góp phần tăng cường tính tuân thủ pháp luật. Khi phát hiện ra những sai sót hay vi phạm của NNT, cán bộ kiểm tra phải xử lý bằng các hình thức xử phạt nghiêm minh. Để NNT thấy rằng bất cứ ai cũng phải tuân thủ pháp luật.
Những hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử phạt thích đáng. Xử lý đúng người, đúng tội sẽ nâng cao được hiệu lực của luật thuế. Nguyên tắc kiểm tra thuế Mục đích của việc kiểm tra thuế là phát huy nhân tố tích cực, ngăn ngừa, xử lý các sai phạm gây tổn thất tới lợi ích của nhà nước của nhân dân, của các doanh nghiệp, LVTS Quản trị kinh doanh góp phần hoàn thiện chính sách và pháp luật về thuế. Để đạt được mục đích này thì kiểm tra thuế phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Pháp luật thế hiện ý chí của nhà nước, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
Kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật nên phải tuân thủ pháp luật. Đây là nguyên tắc cần thiết để đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra, nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra thuế, ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hóa hoạt động kiểm tra thuế. Thực hiện đúng nguyên tắc này có nghĩa là các cơ quan và cán bộ kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật không tuân theo ý kiến của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào. Kết luận của kiểm tra phải đúng theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan Đảm bảo tính trung thực, chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong công tác kiểm tra. Có trung thực, chính xác, khách quan trong công tác kiểm tra thì mới cho phép đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý đúng người, 7 đúng việc, đúng pháp luật. Nguyên tắc khách quan và chính xác đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không suy diễn hay quy chụp một cách chủ quan, phải tiến hành công việc một cách thận trọng. Nguyên tắc trung thực đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải phản ánh và đánh giá đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; vô tư, không thiên lệch; không vì quyền lợi cá nhân; phải tỷ mỷ, cẩn thận và phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát thực tiễn.
Nguyên tắc công khai, dân chủ Tính dân chủ trong kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc công khai gồm nhiều vấn đề cụ thể như: tiếp xúc công khai với các đối tượng liên quan, công bố công khai kết luận kiểm tra. Tuy nhiên tùy từng trường hợp cụ thể mà xác định phạm vi và hình thức công khai cho phù hợp với yêu cầu đảm bảo giữ bí mật quốc gia, lợi ích của Nhà Nước, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất. LVTS Quản trị kinh doanh Nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong kiểm tra thuế là vì trong quá trình kiểm tra cán bộ làm công tác này tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu liên quan đến bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật của quốc gia.
Nếu để lộ cho những đối tượng không được phép biết sẽ làm thiệt hại lợi ích của quốc gia và các doanh nghiệp. Do vậy, chỉ được phép báo cáo cho những người có thẩm quyền được biết. Nguyên tắc hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này mới đảm bảo kiểm tra thuế đạt được mục đích của nó. Nguyên tắc này đòi hỏi kiểm tra thuế phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là nó phải có tác dụng đề phòng, ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm; phải đảm bảo giúp các đối tượng kiểm tra thực hiện đúng chính sách thuế.