đặt vấn đề ở mỗi quốc gia. Theo Ngân hàng Thế Giới (WB) định nghĩa: “BTXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng ứng phó và kiềm chế được nguy cơ có tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tốn thương và những bấp bênh thu nhập.” [2] Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì : “BTXH là việc cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế nhà nước hoặc tập thể, cộng đồng nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp. ”[2] Theo Viện nghiên cứu Phát triển Hải ngoại (ODI): “BTXH là những hành động công ích nhằm giảm thiểu tính tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hóa, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội.”[2] Trong định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng. Còn Tổ chức Lao động Quốc tế thì có xu hướng định nghĩa sự BTXH theo mức sống và quyền của con người,… Ở nước ta từ thời kỳ phong kiến, những hoạt động mang tính BTXH đã được hình thành như quỹ “nghĩa điền”, quỹ “nghĩa thương”, các hội, 10 phường,… nhằm cưu mang những người nghèo đói, bất hạnh.
Bên cạnh đó, các triều đại vua chúa thường ban phát, cứu giúp những người khốn khó, đói nghèo những lúc mất mùa, thiên tai, hoạn nạn. Đến thời kỳ Pháp thuộc, bên cạnh việc thực hiện các hình thức BTXH truyền thống trong từng cộng đồng làng, xã, thực dân Pháp đã xây dựng lên những cô nhi viện, nhà tế bần, thực hiện một số chế độ trợ cấp tai nạn lao động, ốm đau cho thợ mỏ, chế độ hưu bổng cho những người làm việc trong bộ máy nhà nước. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ đã tập trung vào các lĩnh vực CTXH, ưu đãi xã hội và thực hiện chế độ một số quyền lợi của BHXH cho một số đối tượng nhất định. Theo Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1999), “Bảo trợ xã hội là thực hiện các chính sách, chế độ, các hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội.” [6] Bên cạnh đó còn có khái niệm “cứu trợ xã hội là sự cứu tế và trợ giúp của nhà nước, cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình khi họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn đặc biệt vì các nguyên nhân khác nhau nhằm giúp họ vượt qua hoàn cảnh khó khăn, tái hòa nhập đời sống cộng đồng xã hội.”[9] Mặc dù, với những diễn đạt khác nhau, các khái niệm về BTXH đều có những đặc điểm chung là sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm hạn chế các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật,… dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức sống tối thiểu.
Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả chọn khái niệm theo quan 11 điểm Thuật ngữ Lao động Thương binh Xã hội của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (1999) [6] làm định hướng chính. Cơ sở của công tác BTXH - Công bằng xã hội Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích, thước đo của nó là sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân. Đó là một giá trị cơ bản trong các mối quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập, quan hệ giữa các thành viên xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, y tế, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, thể thao,… Các nhà kinh tế sử dụng hai khái niệm để bàn về vấn đề công bằng xã hội. Đó là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc.[36] Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau.
Có nghĩa là không phân biệt giới tính, dân tộc, độ tuổi,… những người có kết quả hoạt động kinh tế như nhau thì được đối xử như nhau. Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau do có khả năng và kỷ năng lao động khác nhau, cường độ làm việc khác nhau, sự khác nhau về giáo dục – đào tạo, thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau, gánh chịu rủi ro khác nhau,. Thực chất ở đây là lấy của người giàu, chia cho người nghèo. Trong một xã hội, cho dù được đối xử công bằng về chính trị, luật pháp, công bằng trong tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do sản xuất – kinh doanh trong khuôn khổ quy định của pháp luật, công bằng về thụ hưởng lợi ích kinh tế - văn hóa,… nhưng song song với đó vẫn có một bộ phận dân cư gánh chịu rủi ro, bất trắc như : mồ côi, khuyết tật,… do vậy, xã hội cần có những chính sách 12 trợ giúp cho họ.
Như vậy, bản chất của BTXH chính là tiến hành phân phối lại thu nhập quốc dân để đảm bảo công bằng xã hội và tăng phúc lợi cho người nghèo. - Phân phối lại thu nhập Như đã nêu ở trên, để đảm bảo công bằng xã hội, Chính phủ phải tiến hành phân phối lại thu nhập. Tức là tiến hành điều hòa lại mức thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự chênh lệch giữa những người có thu nhập cao và những đối tượng có mức thu nhập dưới mức tối thiểu. Chính phủ có thể trợ giúp cho người nghèo bằng cách chuyển giao tiền tệ, chuyển giao hiện vật hoặc trợ cấp qua giá cả.
Mục đích của việc phân phối lại thu nhập là góp phần phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng, các địa phương; đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho các khu vực phi sản xuất vật chất như văn hóa, giáo dục, y tế,… và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội nhằm đảm bảo công bằng xã hội, quá trình này thường được thực hiện thông qua việc đánh thuế, trợ cấp và chi tiêu công cộng của Chính phủ. Đặc điểm của công tác BTXH - Nhà nước là chủ thể chính thực hiện BTXH. Nhà nước với pháp luật và nguồn ngân sách của mình sẽ định hướng và tổ chức thực hiện công tác BTXH. Cụ thể, Nhà nước có trách nhiệm chính trong việc phân bổ các nguồn lực và thu nhập, chi tiêu ngân sách cho các chương trình, hoạt động trợ giúp xã hội (TGXH).
- Tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia. Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, hoạt động BTXH còn phải đa dạng hóa các hình thức hoạt động khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. 13 - Hoạt động BTXH mang tính chất nhân đạo, thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng. Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro, hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta.
- Hoạt động BTXH góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa … - BTXH không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng. - Thực hiện các chế độ trợ giúp tại hộ gia đình, cộng đồng nơi đối tượng thụ hưởng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện. Đồng thời thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung trong các trung tâm BTXH. - Các chính sách BTXH được cung cấp dựa vào nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, không yêu cầu sự đóng góp của đối tượng thụ hưởng.
Nguồn tài chính chủ yếu lấy từ thuế (trong khi các chính sách an sinh xã hội khác, đặc biệt các chính sách về BHXH, BHYT được thực hiện thông qua nguyên tắc đóng hưởng với sự tham gia của doanh nghiệp, người lao động và nhà nước). Ý nghĩa của công tác BTXH - BTXH thể hiện đầy đủ và sâu sắc tính nhân đạo, tương ái cộng đồng của dân tộc Việt Nam, của Đảng và Nhà nước ta trong công tác chăm lo đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Mục tiêu cơ bản của BTXH là tạo môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia. BTXH thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng.
Trên cơ sở liên kết, hợp tác của cộng đồng, những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là 14 yếu tố phát huy sức mạnh cộng đồng, giá trị truyền thống của dân tộc ta. - Dưới góc độ kinh tế, BTXH không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận nhưng lại có ý nghĩa là công cụ phân phối lại tiền bạc, của cải và dịch vụ có lợi cho các thành viên bất hạnh của xã hội, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm bớt bần cùng, nghèo đói. Nhà nước thông qua chính sách hỗ trợ người nghèo, các đối tượng yếu thế, điều chỉnh nguồn lực cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, hạn chế bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư, tạo nên sự đồng thuận giữa các tầng lớp, các nhóm xã hội trong quá trình phát triển và duy trì sự ổn định xã hội. Bên cạnh đó, thông qua hỗ trợ người nghèo, người yếu thế tham gia thị trường lao động, giảm nghèo, giảm bất bình đẳng,… BTXH nâng cao nguồn vốn con người, tăng cường cơ hội phát triển con người và tăng cường sự hòa nhập…, là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường gắn kết xã hội.