Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CO CHE PHÁP LÝ XỬ LÝ VI PHAM PHÁP LUAT TRONG LĨNH VUC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIEN RUNG 1. KHÁI NIỆM CO CHE PHÁP LY VE XỬ LÝ VI PHAM PHAP LUAT TRONG LINH VUC BAO VE VA PHAT TRIEN RUNG 1. Rừng, bảo vệ và phat triển rừng Khái niệm về rừng mang ý nghĩa pháp lý xuất hiện đầu tiên trong Pháp lệnh Bảo vệ rừng của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1972 nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra nguồn gốc của rừng. Năm 1991, lần đầu tiên Luật BV&PTR được ban hành trong đó nêu đầy đủ các yêu tố có liên quan đến rừng.
Năm 2004, Luật BV&PTR được sửa đối b6 sung và một trong số những điều sửa đổi b6 sung nhiều nhất là khái niệm về rừng và đất rừng. Theo đó, khái niệm về rừng được hiểu như sau: Rừng là một hệ sinh thai bao gom quan thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tan rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gom rừng trong, rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (Khoản I Điều 3 Luật BV&PTR 2004). Theo khái niệm trên, rừng bao gôm các yêu tô: Thực vật rừng có nguôn gôc tự nhiên hoặc do con người trông mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên dat trông rừng, động vật rừng sông hoang dã trong rừng, dat rừng, vi sinh vật rừng.
Đất rừng là các loại đất có rừng, đất chưa có rừng, đất không còn rừng và thảm thực vật tự nhiên được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp. Dat rung bao gom: Dat rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất và đất trồng rừng. Theo khoản 3 Điều 3 Luật BV&PTR thì Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật 8 lâm sinh khác dé tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị da dang sinh học, kha năng cung câp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng. Đến nay chưa có một khái niệm chính thống và đầy đủ nào về bảo vệ rừng, tuy nhiên theo quan điểm của chúng tôi thì bảo vệ rừng là tong thé hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân nhăm bảo toàn, bảo vệ tài nguyên rừng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và việc khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhăm phát triển hệ sinh thái rừng, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ tính đa dạng sinh học.
Theo đó, bảo vệ rừng sẽ bao gồm các hoạt động sau: - Bảo vệ hệ sinh thái rừng - Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng - Phòng cháy, chữa cháy rừng - Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng - Kinh doanh, vận chuyên, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng - Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR. Như vậy, hoạt động xử lý vi phạm pháp luật cũng là một trong số những hoạt động quan trọng nhằm ngăn ngừa những hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng. Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR. Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng 1.
Khái niệm Trong đời sống kinh tế - xã hội, các yêu cầu của pháp luật thường được các chủ thê pháp luật: công dân, cán bộ công chức, cơ quan, tô chức, nhà nước, xã hội. tự giác nghiêm chỉnh thực hiện. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn xảy ra nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Dé đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm pháp luật đó thi 9 pháp luật là cơ sở pháp lý hữu hiệu nhất, bên cạnh đó dé pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh tạo ra được sự công bằng trong xã hội thì cơ chế pháp lý để xử lý vi phạm pháp luật là một yếu tố hết sức quan trọng.
Đã có rất nhiều cách lý giải về thuật ngữ "cơ chế" và cũng có rất nhiều cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau về thuật ngữ này. Cơ chế, xét về bản chất là sự ràng buộc có tính hệ thông nhằm xác lập một trật tự, khuôn khổ nhất định. Như vậy, cơ chế pháp lý nói chung chính là sự ràng buộc có tính hệ thống được tô chức thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc pháp lý, các quy định của pháp luật nhằm xác lập trật tự đối với lĩnh vực, hoạt động pháp lý nhất định. Ngoài ra cũng có thể hiểu cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật có thể được coi là một dạng của cơ chế điều chỉnh pháp luật.
Trên thực tế, cơ chế điều chỉnh pháp luật là một khái niệm pháp ly rất phức tạp, có thé được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ xem xét cơ chế điều chỉnh pháp luật dưới góc độ chức năng. Vì thế, cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thống các phương tiện pháp lý tác động đến các quan hệ xã hội thông qua các chủ thé [21, tr. Từ góc độ tâm lý, cơ chế điều chỉnh pháp luật là sự tác động đến ý chí của con người nhăm tạo ra cách xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật.
Còn trên bình diện xã hội thì cơ chế điều chỉnh pháp luật nằm trong cơ chế điều chỉnh xã hội. Theo tác giả Hoàng Thị Kim Qué thì cơ chế điều chỉnh pháp luật là hệ thông thống nhất các phương tiện pháp lý đặc thù có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, nhờ đó mà thực hiện sự tác động có hiệu quả của pháp luật lên các quan hệ xã hội nhằm thiết lập trật tự pháp luật và tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo những mục tiêu, yêu cầu của pháp luật [21, tr. Như vậy, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là sự ràng buộc có tính hệ thống được tô chức thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, các quy định của pháp luật và được tổ chức, đảm bảo cũng như thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thâm quyên trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR. Đặc điểm Một là, cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR có đổi tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá nhân tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR: Cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR có đối tượng tác động khá đặc biệt đó là các quan hệ xã hội phát sinh khi các cá nhân, tô chức có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến rừng và đất rừng- hai loại tài nguyên đặc biệt.
Trong lĩnh vực BV&PTR, thì những hành vi vi phạm đến tài nguyên rừng và đất rừng sẽ bị xử lý bằng pháp luật trong đó bao gồm: Thực vật rừng có nguồn gốc tự nhiên hoặc do con người trồng mới hoặc khoanh nuôi tái sinh trên đất trồng rừng, động vật rừng sông hoang dã trong rừng, đất rừng, vi sinh vật rừng. Đây là những loại tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thông nhất quản lý. Vì vậy dé xác lập một trật tự trong lĩnh vực này nhà nước ban hành hàng loạt các nguyên tắc, các quy tắc nhất định để đảm bảo cho hoạt động BV&PTR theo đúng định hướng đã đặt ra trước đó, mục tiêu cuối cùng là bảo vệ được tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững. Đối tượng tác động của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BV&PTR, trong đó bao gồm hành vi vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trong lĩnh vực này.
Trong quan hệ này một bên là những cơ quan nhà nước có thâm quyền áp dụng pháp luật một bên là các cá nhân, tô chức có hành vi vi phạm pháp luật. Các cơ quan có thâm quyền tham gia quan hệ nay bao gồm: Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, hệ thống kiểm lâm và tòa án nhân dân các cấp, trong đó UBND va kiểm lâm là những cơ quan nhà nước có thâm quyền xử phat vi phạm hành chính đối với các cá nhân, tô chức có hành vi vi phạm hành chính mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự còn Tòa án nhân dân các cấp có thâm quyền xét xử đối với các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR đã bi xử phạt hành chính hoặc vi phạm mức độ nghiêm trọng bi co quan kiểm lâm hoặc cơ quan điều tra khởi tố. Các cá nhân, tổ chức là đối tượng tác động của cơ chế pháp lý này là những người có hành 11 vi vi phạm được quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính hoặc tai năm điều của BLHS có liên quan đến lĩnh vực BV&PTR. Theo đó, xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài có hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Còn truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm đã bi xử phạt hành chính hoặc gây hậu quả nghiêm trọng đến tài nguyên rừng. Các cá nhân, tổ chức là đối tượng tác động của cơ chế pháp lý về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BV&PTR phải có hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến rừng, đất rừng, môi trường rừng được Luật BV&PTR bảo vệ, chứa đựng lỗi của chủ thé hành vi đó, chủ thé có năng lực trách nhiệm pháp lý.