Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học Khuyến lâm là công tác chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ ra thực tế, do vậy công tác khuyến lâm thường gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, khoa học kỹ thuật lâm nghiệp cùng với các ngành khoa học khác đang được phát triển mạnh mẽ trong và ngoài nước như: công nghệ sinh học trong công tác giống, phương thức phối kết hợp, trồng rừng thâm canh, trồng rừng lâm sản ngoài gỗ… hiệu quả kinh tế, môi trường được nghiên cứu thử nghiệm. Đánh giá một cách đầy đủ ở các vùng sinh thái khác nhau, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có sự phối kết hợp hài hoà phát huy hiệu quả, kiến thức khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tiên tiến với kiến thức bản địa của người dân. Kinh doanh lâm nghiệp từ đời này qua đời khác đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá trong việc lựa chọn cây trồng, phương thức trồng và kỹ thuật trồng.
những kinh nghiệm đó cần được tổng kết, đánh giá, hoàn thiện và phát triển. Cơ sở pháp lý Chiến lược phát triển lâm nghiệp việt nam giai đoạn 2006-2020 đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007, chương trình nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm là một trong 5 chương trình để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ đến năm 2020. Đề án phát triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm 2020 đã được bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt tại quyết định số 832/QĐ-BNN-KHCN ngày 17/3/2008. Quyết định số 100/2007/ QĐ - TTg ngày 6/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng.
Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất, đều đề cập đến phát triển khuyến lâm. Ngày 5 26 tháng 4 năm 2005 thủ tướng chính phủ ban hành nghị định số 56/2005/NĐ - CP nghị định của chính phủ về khuyến nông, khuyến ngư. Ngày 10/10/2005 ban hành thông tư số 60/ TT- BNN về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 56/2005/ NĐ-CP. Ngày 6/4/2006 ban hành thông tư liên tịch số 30/2006/ TTLT - BTC - BNN &PTNT - BTS, ngày 21/5/2007 ban hành thông tư 50/TTLT về việc hướng dẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động khuyến nông, khuyến ngư.
Lịch sử nghiên cứu khuyến nông 1. Trên thế giới * Mỹ (1914) - Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân. Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm. - Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân.
- Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên. Ông cũng là người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân. - Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học. Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học.
Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin …cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo. Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông. Đến năm 1907 ở Mỹ đã có 42 trường / 39 bang có đào tạo khuyến nông. Năm 1910 có 35 trường có bộ môn khuyến nông.
6 -Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống khuyến nông quốc gia. Giai đạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3. - Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển. Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương …(Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn /6 năm, xuất khẩu lớn nhất TG: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54 % lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới.
Ngô 2000-2001 đạt 335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn = 69 % TG ) * Ấn Độ (1960) -Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm 1960. Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc. Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ 2 trên thế giới, sau Trung quốc, (vào thời điểm này dân số Ấn Độ có khoảng 400 triệu, Trung Quốc có khoảng 600 triệu). Nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lương thực thiếu thốn, dân thiếu ăn và thường xuyên có những người dân chết do đói ăn.Trước thực trạng này Chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết vấn đề lương thực.
Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Ấn Độ lúc này là cần thiết và tất yếu. - Sự thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò đóng góp đáng kể của khuyến nông. Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới thành tựu 3 cuộc cách mạng: - Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất. Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh; đã nói đến cách mạng xanh phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ.
Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai … Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời … đã làm tăng vọt năng suất và sản lương lương thực của quốc 7 gia này. - Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu …Nơi nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa. Khuyến nông có vai trò cực kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: vốn sản xuất, giống trâu, bò, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa - Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng nâu. Đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu.
* Thái Lan (1967) Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp. Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam. Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu. Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967.
Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau: - Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120-150-và thậm chí 200 triệu USD. Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta. - Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới(xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm). - Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản.
Khí hậu Trung Quốc thuộc vùng vĩ độ cao có ôn đới, á nhiệt đới và một phần nhiệt đới. Hệ thống khuyến nông Trung Quốc được thành lập năm 1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông Trung Quốc rất quan tâm: -Năm 1928 Viện đại học nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân khoa khuyến nông. - Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến nông do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương pháp sản xuất 8 nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến tri thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ”. - Năm1933, Trường đại học Kim Lăng (Nay là trường Đại học tổng hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông.
- Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 - 1978 nên giai đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX. Nội dung khuyến nông giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dưng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng. - Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh. - Năm 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, NQ của BCH TW Đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp… Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển.
Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận là: + Lúa lai Trung Quốc nghiên cứu lúa lai từ năm 1964 và thành công năm 1985. Đây là một thành công rực rỡ. Người ta nói sứ mạng lịch sử của cuộc “Cách mạng xanh” đến nay đã đạt tột đỉnh. Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới 5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chụi thâm canh tăng năng suất và sản lượng.
Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu qủa áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có được. Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể năng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn. 9 + Thú y và dụng cụ thú y Công nghệ sản xuất dụng cụ thú y của Trung Quốc phát triển mạnh, sản xuất số lượng nhiều, sử dụng tiện lợi, giá rẻ. Cũng như y học cổ truyền, khoa học thú y Trung Quốc có nhiều thành tựu.