CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING DỊCH VỤ 1. TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Khái niệm về dịch vụ và marketing dịch vụ a. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ được định nghĩa là bất kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng này là vô hình và không tạo ra bất kỳ sự sở hữu nào về vật chất cụ thể.
Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng các hỗ trợ của sản phẩm vật chất [1, tr. Từ quan niệm trên cho thấy, dịch vụ gắn liền với hoạt động tạo ra nó. Khác với hàng hóa hiện hữu, các nhân tố cấu thành dịch vụ không tồn tại dưới dạng hiện vật. Dịch vụ là một quá trình hoạt động, diễn ra theo một trình tự gồm nhiều khâu, nhiều bước khác nhau.
Mỗi khâu, mỗi bước có thể là những dịch vụ nhánh hoặc dịch vụ độc lập với dịch vụ chính. Mỗi loại dịch vụ mang lại cho người tiêu dùng một giá trị nào đó. Giá trị của dịch vụ chính do những hoạt động chủ yếu trong dịch vụ tạo ra và mang lại lợi ích cơ bản cho người tiêu dùng. Giá trị của dịch vụ phụ do hoạt động phụ trợ tạo nên và mang lại lợi ích phụ thêm [4].
Marketing dịch vụ Theo Philip Kotler định nghĩa marketing như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với người khác [8, tr. Do sự phát triển của ngành dịch vụ ngày càng mạnh mẽ và sự cạnh 7 tranh trong kinh doanh dịch vụ ngày càng khốc liệt mà xuất hiện marketing dịch vụ. Marketing cho ngành dịch vụ được phát triển trên cơ sở kế thừa những kết quả của marketing hàng hóa. Chúng ta có thể hiểu về marketing dịch vụ một cách khái quát như sau: Marketing dịch vụ là quá trình thu thập, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ.
Vì dịch vụ khác với sản phẩm hữu hình, nên thường đòi hỏi các cách tiếp cận marketing khác biệt hơn. Đối với các công ty cung ứng sản phẩm hữu hình, sản phẩm là tương đối chuẩn và có thể lưu kho để chờ khách hàng đến mua. Nhưng với kinh doanh dịch vụ, khách hàng và các nhân viên dịch vụ trực tiếp tương tác với nhau để tạo ra dịch vụ. Do vậy, các nhà cung ứng dịch vụ phải tương tác một cách hiệu quả với khách hàng để tạo ra giá trị vượt trội trong suốt quá trình cung ứng dịch vụ.
Vai trò marketing, sự cần thiết áp dụng marketing trong kinh doanh dịch vụ - Vai trò của marketing: là tạo ra các giá trị cho khách hàng, thực hiện các cam kết, đem lại sự hài lòng và tạo dựng lòng trung thành của khách hàng. Marketing được xem như là “tiếng nói của khách hàng”, nó bao gồm các hoạt động triển khai và thực thi các quá trình để nắm bắt nhu cầu khách hàng. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. - Sự cần thiết áp dụng marketing vào kinh doanh dịch vụ: marketing là công cụ không thể thiếu trong kinh doanh dịch vụ.
Nó không chỉ là chức năng quản lý kinh doanh, mà còn là một triết lý và phương châm dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp hướng ra thị trường, đối phó với cạnh tranh, gắn kết lâu dài và hiệu quả với khách hàng mục tiêu và khách hàng tiềm năng. 8 Thông qua hoạt động marketing, nhận thức và hoạt động của doanh nghiệp ngày càng mang tính xã hội và nhân văn, biết lấy nhu cầu và mong muốn của khách hàng làm nền tảng để nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Đặc điểm của dịch vụ và tác động của nó đến các chính sách marketing Dịch vụ có 4 đặc điểm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các chính sách marketing trong kinh doanh dịch vụ. - Tính vô hình: Khi khách hàng mua một dịch vụ chính là mua những giá trị, lợi ích mà dịch vụ đó mang lại nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ trong quá trình tiêu dùng dịch vụ.
Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là tự thân dịch vụ thường không thể trưng bày, truyền đạt đến khách hàng dễ dàng để giúp họ có thể hiểu rõ được dịch vụ trước khi mua, nên khách hàng thường tìm kiếm những bằng chứng hữu hình hỗ trợ quá trình trải nghiệm dịch vụ như: Công nghệ, cơ sở vật chất, con người, tài liệu thông tin, giá cả… để phán đoán, đánh giá dịch vụ. - Tính không tách rời được: Các dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Nó chỉ được hoàn thành cùng với sự tiêu dùng hoàn thành của khách hàng. Người cung ứng dịch vụ và khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả của dịch vụ.
Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ mới có thể thực hiện được. Dịch vụ luôn đi liền với khách hàng.Vì vậy, doanh nghiệp dịch vụ cần tăng cường đào tạo nhân viên cung cấp dịch vụ và xây dựng lòng tin của khách hàng. - Tính không đồng nhất về chất lượng: Do có nhiều người tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ, tại các thời gian, địa điểm khác nhau và có sự can thiệp của khách hàng trong quá trình đó tạo nên tính không đồng nhất về chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ còn được đánh giá phụ thuộc sự vào cảm nhận của khách hàng xuất phát từ thái độ, kỹ năng, kiến thức của nhân viên 9 cung ứng dịch vụ.
Vì vậy, quản lý chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng là công việc khó khăn. - Tính không lưu giữ được: Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ là đồng thời nên dich vụ không thể lưu giữ được. Trường hợp nhu cầu về dịch vụ ổn định thì doanh nghiệp dễ dàng chuẩn bị trước các nguồn lực để cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Nhưng khi nhu cầu tăng giảm đột biến thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn.
Hiện tượng này thường gây ra mất cân đối quan hệ cung cầu cục bộ. Vì vậy, các doanh nghiệp cần thực hiện chiến lược để cân đối cung cầu tốt hơn. Sự khác biệt giữa marketing hàng hóa hữu hình và marketing dịch vụ Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của marketing hàng hóa hiện hữu. Do đặc điểm sản xuất, phân phối và tiêu dùng dịch vụ đòi hỏi sự thay đổi cho phù hợp với đặc thù của marketing dịch vụ.
Ngoài 4 nhân tố truyền thống của marketing hàng hóa hữu hình, cần bổ sung thêm 3 nhân tố sau: - Con người (People): Dịch vụ là hành động, sự trải nghiệm của con người, khách hàng cùng tham gia tương tác với nhân viên giao tiếp dịch vụ nên marketing trong lĩnh vực dịch vụ phải chú ý đến nhân tố con người. - Qui trình (Process): Dịch vụ có tính không đồng nhất, sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên chất lượng dịch vụ không ổn định. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách qui trình rành mạch, rõ ràng cho quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ để tạo nên sự ổn định của dịch vụ. - Bằng chứng vật chất (Physical evidence): Dịch vụ là vô hình, nên khách hàng có xu hướng tìm kiếm những tín hịêu hữu hình giúp họ hiểu được bản chất của sự trải nghiệm dịch vụ.
Vì thế, cần chú trọng chính sách marketing bằng chứng vật chất. 10 Như vậy, marketing dịch vụ gồm 7 yếu tố công cụ cơ bản (7 P): P1 (Product): Chính sách sản phẩm; P2 (Price): Chính sách giá cả; P3 (Place): Chính sách kênh phân phối; P4 (Promotion): Chính sách truyền thông và cổ động; P5 (People): Chính sách con người; P6 (Process): Chính sách qui trình dịch vụ; P7 (Physical evidence): Chính sách bằng chứng vật chất Các công cụ marketing dịch vụ chi phối lẫn nhau và độc lập với nhau. Vì vậy, nhà quản trị marketing cần thiết lập, duy trì mức độ quan trọng khác nhau đối với từng yếu tố công cụ để tạo nên một khung marketing hỗn hợp của dịch vụ, thích ứng với từng thị trường trong từng thời gian cụ thể nhằm hướng tới những mục tiêu chiến lược đã được xác định. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH MARKETING TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ Phân tích môi trường marketing P1: chính sách sản phẩm P2: Chính sách giá cả Mục tiêu marketing P3: Chính sách phân phối P4: Chính sách truyền thông cổ động P5: Chính sách con người Phân đoạn và lựa chọn thị P6: Chính sách qui trình trường mục tiêu P7: Chính sách bằng chứng vật chất Định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu Hình 1.1 – Sơ đồ Qui trình xây dựng các chính sách marketing dịch vụ 1.
Phân tích môi trường marketing Môi trường marketing tiêu biểu cho một loạt các thế lực không thể kiểm soát được mà doanh nghiệp phải dựa vào đó để xây dựng chiến lược và chính sách marketing thích hợp. Việc phân tích môi trường marketing sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện các cơ hội và đe dọa đối với hoạt động marketing. 11 + Môi trường bên ngoài doanh nghiệp (1)Môi trường vi mô: Các đối thủ cạnh tranh, khách hàng của doanh nghiệp, các trung gian marketing, các nhà cung cấp, công chúng. (2)Môi trường vĩ mô: Môi trường chính trị pháp luật, môi trường văn hóa xã hội, môi trường kinh tế, môi trường công nghệ, môi trường dân số, môi trường tự nhiên.
+ Môi trường bên trong doanh nghiệp Việc hoạch định các chính sách marketing của doanh nghiệp trước hết phải căn cứ vào các yếu tố nội lực doanh nghiệp, gồm: Nguồn lực tài chính, trình độ kỹ thuật công nghệ, hệ thống mạng lưới phân phối, số lượng và trình độ cán bộ quản lý, đội ngũ nhân viên, mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong doanh nghiệp. Các yếu tố này là điều kiện đảm bảo cho họat động kinh doanh của doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu thị trường và nâng cao vị thế cạnh tranh của mình. Nhà quản trị marketing phải biết khai thác tối đa sức mạnh nội lực của doanh nghiệp thông qua các chính sách, biện pháp marketing. Mục tiêu marketing Mục tiêu marketing là đích hướng đến của mọi họat động marketing trong quá trình hoạch định.
Mục tiêu đó phải kết nối chặt chẽ với mục tiêu kinh doanh, chiến lược và các họat động của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu.