CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. Khái niệm về marketing Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chiến lược Marketing. Dưới đây là tập hợp một số bài báo, sách, công trình nghiên cứu về chiến lược Marketing nhằm hệ thống các quan điểm về chiến lược Marketing và hoạch định chiến lược Marketing của một số tác giả trong và ngoài nước với các nội dung chính.
Theo Peter Drucker, nhà quản trị bậc thầy đã từng nói rằng, “nội dung thực sự của Marketing không phải là bán hàng. Mục tiêu đích thực của Marketing là phải biết và hiểu được khách hàng, tốt đến mức các sản phẩm và dịch vụ cung ứng sẽ phù hợp hoàn toàn với khách hàng và tự nó sẽ được bán” [4]. Hiệp hội Marketing Hoa Kì định nghĩa Marketing: “là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các vấn đề về sản phẩm, định giá, xúc tiến và phân phối cho sản phẩm, dịch vụ và tư tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức” [2]. Định nghĩa của Viện Marketing Anh “Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản xuất và đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến” [4].
Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu marketing của LHQ, “Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường 6 hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng”, đây là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tư duy marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi [4]. Tuy nhiên ngày nay định nghĩa marketing của Philip Kotler được xem là hoàn chỉnh và đang được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Theo Philip Kotler: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những giá trị họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác [4]. Khái niệm về chiến lược marketing Theo Frederick E.
Webster (Industrial Marketing Strategy, p.18) chiến lược và chiến lược Marketing là: “Chiến lược là một kế hoạch cho việc đạt được mục tiêu thông qua việc phát triển các nguồn lực hiếm có trong việc đối mặt với đối thủ cạnh tranh thông minh. Chiến lược Marketing bắt đầu với việc phân tích sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là môi trường đối thủ cạnh tranh và của khách hàng tiềm năng”. Theo Brownlie và Saren (1992) cho rằng chiến lược Marketing như là: “chiến lược là tổng quát, marketing là cụ thể”. Hay một khái niệm đơn giản hơn được các doanh nghiệp thường dùng là “Chiến lược Marketing là cách thức doanh nghiệp sẽ làm để đạt được mục tiêu Marketing của mình”.Guitinan (Marketing Management: Strategy & Program, p.
656) lại định nghĩa: “Chiến lược marketing là một chiến lược đặt biệt nhằm chỉ ra thị trường mục tiêu cụ thể và các kiểu lợi thế cạnh tranh, cái mà được phát triển và được khai thác”.Guitinan (Marketing Management: Strategy & Program) cho rằng những thành phần của chiến lược marketing gồm: Sứ mệnh, mục tiêu của tổ chức và chiến lược chia sẽ nguồn lực; Năng lực tiềm tàng và những cơ hội của tổ chức (Phân tích môi 7 trường; Phân tích khách hàng và đối thủ cạnh trạnh; Những cơ hội của thị trường; Những năng lực tiềm tàng và nguồn lực); Mục tiêu của chiến lược (Sự tăng trưởng bên trong; Sự tăng trưởng nhiều mặc; Sự phát triển); Chiến lược marketing mục tiêu và định vị thương hiệu (Phân đoạn thị trường; Lựa chọn thị trường mục tiêu; Định vị thương hiệu; Lợi thế về sự khác biệt giá); Mục tiêu của marketing. Chiến lược marketing theo cách tiếp cận sản phẩm – thị trường gồm: chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược mở rộng thị trường, chiến lược phát triển sản phẩm, chiến lược đa dạng hoá. Còn theo cách tiếp cận cạnh tranh có các chiến lược marketing: chiến lược dẫn đầu thị trường, chiến lược thách thức thị trường, chiến lược đi theo thị trường, chiến lược lấp chỗ trống thị trường. Và theo cách tiếp cận về phối hợp các biến số marketing (marketing – mix): chiến lược marketing – mix; hoặc các chiến lược sản phẩm, chiến lược định giá, chiến lược phân phối, chiến lược cổ động (Lê Thế Giới – Nguyễn Xuân Lãn, Quản trị Marketing).
Vai trò của chiến lược marketing Chiến lược marketing có vai trò quan trọng trong quy trình quản trị chiến lược của công ty. Kinh nghiệm của những công ty giỏi trong việc hoạch định chiến lược chỉ ra rằng sự thất bại trong chiến lược marketing sẽ làm trở ngại đến cách thức đi đến mục tiêu đã được thiết lập bởi các kế họach chiến lược. Ta biết rằng, giữa người sản xuất và người tiêu dùng có một khoảng cách lớn đó là thị trường. Để giảm bớt khoảng cách đó các doanh nghiệp cần phải tiếp cận thị trường.
Doanh nghiệp cần nắm vững các yếu tố: Thứ nhất, doanh số có thể giảm dần vì cạnh tranh, vì phân phối kém hiệu quả… Thứ hai, một khi đã đạt đến đỉnh cao trong khu vực, trong ngành hoạt động thì mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp sẽ chậm lại, lúc này cần đến 8 sự đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. Thứ ba, thị trường tiến triển nhanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải dành nhiều sức lực trong nghiên cứu thị trường, tức là tìm hiểu nhanh những biến đổi trong quá trình quyết định mua hàng và nhất là những quyết định của doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động mới cho hiệu quả hơn. Thứ tư, dưới áp lực của cạnh tranh đầu tư của các doanh nghiệp khác nhiều hơn làm cho cơ cấu marketing hoàn chỉnh hơn. Chiến lược marketing vạch ra những nét lớn trong hoạt động marketing của một doanh nghiệp, từ việc lựa chọn chiến lược phát triển, chiến lược cạnh tranh cho đến việc xây dựng các chương trình hoạt động cụ thể thích hợp, nhờ đó một đơn vị kinh doanh hi vọng đạt được mục tiêu marketing của mình.
Chiến lược marketing là chiến lược chức năng, nó được xem là một nền tảng có tính định hướng cho việc xây dựng các chiến lược chức năng khác trong doanh nghiệp như chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính… 1. TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO DÒNG SẢN PHẨM 1. Định nghĩa dòng sản phẩm Dòng sản phẩm là một nhóm các sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau vì chức năng của chúng tương tự nhau và cùng được bán đến một số nhóm khách hàng và được tiếp thị qua cùng một kênh hoặc nằm trong cùng một mức giá nào đó [1, trang 294-295] 1. Tiến trình xây dựng chiến lược marketing cho dòng sản phẩm a.
Xác định mục tiêu marketing Muốn thiết lập mục tiêu Marketing thì trước hết mục tiêu đó phải phù hợp với mục tiêu mà công ty đang theo đuổi. Do vậy, đầu tiên, ta cần biết mục tiêu của công ty được xây dựng như thế nào, để từ đó đưa ra được mục tiêu Marketing tương ứng. Có hai cách thức xác định mục tiêu: xác định theo ma 9 trận Ansoff và mục tiêu SMART. Theo ma trận Ansoff xác định 4 khả năng doanh nghiệp có thể xem xét để xác định mục tiêu marketing.1: Ma trận Ansoff - Bán sản phẩm hiện có vào thị trường hiện hữu: tức là thâm nhập thị trường hữu hiệu nhiều hơn.
- Mở rộng sản phẩm hiện có ra thị trường mới: tức là khai phá thêm thị trường mới nhưng cũng chỉ với sản phẩm hiện có. - Phát triển sản phẩm mới vào thị trường hiện hữu: tăng thêm số lượng sản phẩm thêm vào số lượng sản phẩm hiện có để phục vụ cho thị trường hiện đang có. - Phát triển sản phẩm mới để mở thị trường mới: tức là đa dạng hoá hoạt động kinh doanh. Khả năng nầy tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển kinh doanh, nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro do doanh nghiệp nhảy vào một lĩnh vực hoàn toàn mới.
Thiết lập mục tiêu SMART: S.T là tên viết tắt các chữ đầu của 5 bước: Cụ thể (Specific) - Có thể đo lường được (Measurable) - Có thể đạt được (Attainable/Achievable), Có tính thực tiễn cao (Relevant), Đúng hạn 10 định (Time-Bound). Đây là một công cụ hết sức đơn giản được sử dụng để xác định các mục tiêu một cách rõ ràng để giúp doanh nghiệp xây dựng một kế hoạch hành động chính xác nhằm đạt được kết quả tối ưu. - S = Specific: Cụ thể, rõ ràng: Mục tiêu phải thật cụ thể. Chẳng hạn nếu là nhằm tăng thị phần là tăng bao nhiêu phần trăm? Tăng doanh số thì phải cụ thể là bao nhiêu? Cần bao nhiêu lâu, ngày, tháng năm nào kết thúc? Bằng cách nào? - M = measurable: Có thể đo đếm được.Mục tiêu đưa ra phải có đơn vị, con số cụ thể để có thể đo đếm được.
Chẳng hạn như giờ, ngày, tháng; kg; tấn; lược khách. để đến khi kết thúc năm, kết thúc chương trình, kế hoạch có thể xác định được ngay là đạt hay không đạt mục tiêu đề ra. - A = Achievable: Có thể đạt được. Mục tiêu đặt ra cần phải vừa đủ cao để tranh thủ khai thác hết tiềm năng thị trường và tận dụng hết năng lực của doanh nghiệp, nhưng cũng phải thực tế ở mức có thể đạt được.
Bởi nếu đặt ra mục tiêu mà ngay từ đầu mọi người đều có thể nhận ra ngày là có cố cách mấy cũng chẳng bao giờ đạt được th. sẽ chẳng ai cố gắng làm gì. - R = Realistic: Thực tế.Mục tiêu đặt ra phải sát với năng lực và phải thực tế, liệu bạn có có đủ tài nguyên nhân vật lực để đạt được mục tiêu ấy hay không? Muốn thế người đưa mục tiêu phải am hiểu thị trường, phải biết người, biết ta. - T = Timed: Có hạn mức thời gian.
Bạn cần bao lâu để đạt được mục tiêu đề ra. Ngày, tháng năm nào? b. Phân tích môi trường marketing Sự thành công về marketing tùy thuộc vào việc xây dựng chiến lược và các chính sách marketing đúng đắn phù hợp với những thay đổi của môi trường marketing. Môi trường marketing tiêu biểu cho một loạt các thế lực 11 không thể kiểm soát được mà doanh nghiệp phải dựa vào đó để xây dựng chiến lược và chính sách marketing thích hợp.