CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề chung về chiến lược kinh doanh và quản trị chiến lược 1. Chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Khái niệm chiến lược có từ thời Hi lạp cổ đại.
Thuật ngữ chiến lược - strategy (xuất phát từ tiếng Hy Lạp là “strategos”) là một thuật ngữ quân sự được dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bổ lực lượng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù. Carl von Clausewitz - nhà binh pháp người Phổ thế kỷ 19 - đã mô tả chiến lược là “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến” [1]. Cuối thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về chiến lược không chỉ giới hạn trong quân sự mà còn được mở rộng tới tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … Đầu thế kỷ 20, các thuật ngữ "Chiến lược chính" (grand strategy) và "Chiến lược được ưu tiên" (higher strategy) được đề cập đến như là nghệ thuật sử dụng các nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển và các mục tiêu cụ thể của quốc gia đó. Trong những thập kỷ gần đây, người ta nói nhiều đến chiến lược kinh doanh.
Phải chăng đó là chìa khóa đảm bảo thành công của mọi doanh nghiệp? Hay đó là cơ sở để tránh được tất cả các rủi ro trong kinh doanh? Đứng trên các phương diện khác nhau, các nhà kinh tế học đưa ra những quan điểm và định nghĩa khác nhau về chiến lược. Theo Alfred Chandler (năm 1962) - m ột trong những người đầu tiên kh ởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược - “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản d ài h ạn của doanh nghiệp v à việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” [2]. Đến những năm 1980, khi lý luận về quản trị chiến lược đã được nghiên cứu chín muồi, Jame Brian Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ” [14]. Học viên: Văn Thị Quỳnh Nga – Lớp 10B QTKD1 Trang 3 Luận văn Thạc Sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Một cách tổng quát, Jonhson và Scholes định nghĩa: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” [11] Cũng tiếp cận theo quan điểm cạnh tranh, Micheal E.
Porter (1996) cho rằng: “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau, cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa làm”[12]. Bruc Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston (BCG) đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Henderson viết rằng “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. Tóm lại, chiến lược kinh doanh là một bức tranh toàn cảnh về định hướng sự phát triển và tạo lập lợi th ế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp phải bao gồm những mục tiêu đạt tới trong dài h ạn, những đảm bảo về nguồn lực để đạt được mục và cách thức, tiến trình hành động khi sử dụng các nguồn lực. Vai trò của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp Thực tế nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất ít quan tâm đến vấn đề chiến lược, thậm chí không xác định được cho mình một chiến lược.
Nguyên nhân cơ bản là do chưa nhận thức rõ vai trò của chiến lược. Trước hết, chúng ta phải nhận thức rõ ràng b ất cứ tổ chức hay doanh nghiệp nào (dù quy mô lớn hay quy mô nhỏ) đều cần phải có chiến lược. Đây không chỉ là mong muốn có hay không một chiến lược mà điều này thể hiện kiến thức về khoa học chiến lược của các nhà quản lý doanh nghiệp. Vai trò của chiến lược kinh doanh được thể hiện trên một số khía cạnh: Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh.
Kinh doanh là một hoạt động luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và Học viên: Văn Thị Quỳnh Nga – Lớp 10B QTKD1 Trang 4 Luận văn Thạc Sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội bên trong. Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt được đầy đủ điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội cũng như nguy cơ. Từ đó, giúp doanh nghiệp tận dụng tốt nhất các cơ hội kinh doanh; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực; chủ động thích thích ứng với biến động của thị trường - góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với những lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung vì sự phát triển của doanh nghiệp; đồng thời tạo mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà quản lý với nhân viên.
Qua đó tăng cường và nâng cao hơn nữa năng lực nội tại của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp trong môi trường toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng hiện nay. Như vậy, với chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hướng đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường cho doanh nghiệp đi đúng hướng. Các cấp chiến lược trong doanh nghiệp Các doanh nghiệp hiện đại thường có ba cấp chiến lược tương ứng với ba cấp tổ chức khác nhau, bao gồm chiến lược cấp doanh nghiệp (Corporate Strategy), chiến lược cấp kinh doanh (Business Strategy) và chiến lược cấp chức năng (Functional Strategy).
Các hoạt động cũng như các quyết định chiến lược của ba cấp này ph ải nhất quán, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đáp ứng với những thay đổi của môi trường bên ngoài. (1) Chiến lược cấp doanh nghiệp (gọi tắt là chiến lược doanh nghiệp) thường do Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm xây d ựng. Chiến lược doanh nghiệp liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng những kỳ vọng của cổ đông. Đây là lời công bố về mục tiêu dài hạn, các định hướng phát triển của tổ chức.
Thông thường, chiến lược doanh nghiệp trả lời câu hỏi then chốt: “Doanh nghiệp đã, đang và sẽ hoạt động trong ngành kinh doanh hoặc những ngành kinh doanh nào?” Học viên: Văn Thị Quỳnh Nga – Lớp 10B QTKD1 Trang 5 Luận văn Thạc Sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (2) Chiến lược cấp kinh doanh (gọi tắt là chiến lược kinh doanh) liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào doanh nghiệp hay một hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường (hoặc một đoạn thị trường) cụ thể. Do vậy, chiến lược kinh doanh liên quan khá nhiều đển các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới … Chiến lược kinh doanh phải chỉ ra được cách th ức doanh nghiệp cạnh tranh trong các ngành kinh doanh khác nhau, xác định vị thế cạnh tranh cho các đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) và làm thế nào để phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất. (3) Chiến lược cấp chức năng (gọi tắt là chiến lược chức năng) liên quan tới từng bộ phận chức năng (sản xuất, marketing, tài chính, hệ thống thông tin …) trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được mục tiêu chiến lược kinh doanh. Một chiến lược chức năng là một lời công bố chi tiết về muc tiêu và phương thức hành động ngắn hạn được các bộ phận chức năng sử dụng nhằm đạt được mục tiêu ngắn hạn của các SBU và mục tiêu dài hạn của tổ chức.
Bởi vậy, chiến lược chức năng tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người. Chiến lược Hội đồng quản trị; doanh nghiệp Ban Tổng giám đốc Chiến lược 1 2 3 doanh nghiệp Chiến lược Các chức năng Các chức năng Các chức năng doanh nghiệp KD cho SBU1 KD cho SBU2 KD cho SBU3 Thị trường A Thị trường B Thị trường C Hình 1.1: Ba cấp chiến lược trong doanh nghiệp [15] Học viên: Văn Thị Quỳnh Nga – Lớp 10B QTKD1 Trang 6 Luận văn Thạc Sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. Quản trị chiến lược 1. Khái niệm “Quản trị chiến lược là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết đan chéo nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra” [3].
“Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức đè ra; thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu trong môi trường hiện tại cũng như tương lai” [8]. Quản trị chiến lược là một tập hợp những quyết định quản trị và hành động hướng tới việc hoàn thành mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. Về bản chất, quản trị chiến lược là phương thức, cách thức mà doanh nghiệp tổ chức triển khai chiến lược, bao gồm: Phân tích tình thế hiện tại; đánh giá các quyết định nhằm đưa chiến lược vào triển khai; đánh giá hiệu quả thực thi; điều chỉnh hoặc phát triển chiến lược khi cần thiết. Quản trị chiến lược bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản trị như: hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát.
Vai trò của quản trị chiến lược Quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp định hướng rõ tầm nhìn chiến lược, sứ mạng (nhiệm vụ) và mục tiêu của mình. Quản trị chiến lược giúp doanh nghiệp luôn có các chiến lược tốt, thích nghi với môi trường.