Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị chiến lược và chiến lược kinh doanh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty Novo Nordisk Việt Nam Chương 4: Đề xuấ t chiế n lươ ̣c kinh doanh của Công ty Novo Nordisk. Đóng góp của luận văn - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. - Phân tích thực trạng tình hình kinh doanh tại công ty Novo Nordisk, các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh. Qua đó tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thác thức nhằm hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp để đạt mục tiêu đề ra đến năm 2020.
6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƢỢC VÀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1. Khái niệm về chiến lƣợc và quản trị chiến lƣợc 1. Khái niệm chiến lược Tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau và vào từng thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế có những quan niệm khác nhau về chiến lược. - Theo cách tiếp cận thông thường: Một số nhà kinh tế trên thế giới đã thống nhất chiến lược kinh doanh với chiến lược phát triển doanh nghiệp.
Đại diện cho quan niệm này là các nhà kinh tế của Boston Consulting Group (BCG), một trong ba công ty tư vấn chiến lược hàng đầu trên thế giới do Bruce Henderson sáng lập năm 1963. Theo đó, các nhà kinh tế của BCG như McKinsey, Mercer… cho rằng chiến lược phát triển là chiến lược chung của doanh nghiệp, bao gồm các bộ phận của chiến lược thứ cấp là: chiến lược marketing, chiến lược tài chính, chiến lược nghiên cứu và phát triển. - Tiếp cận về phiá “cạnh tranh": một nhóm tác giả như Micheal.Ohmae…có quan điểm coi chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh. - Theo hướng tiếp cận khác: ngoài ra còn một vài hướng tiếp cận khác từ nhiều tác giả khác nhau như: Nhóm tác giả Garry D.Smith, DannyR, Amold, Bopby G.Bizrell cho rằng: "Chiến lược được định ra như là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát dẫn dắt hoặc định hướng tổ chức đi đến mục tiêu mong muốn.
Kế hoạch tác nghiệp tổng quát này tạo cơ sở cho các chính sách và các thủ pháp tác nghiệp" (Bùi Văn Đông (2011), Chiến lược và sách lược kinh doanh, NXB Lao Động, Hà Nội) 7 z Theo Alfred Chandler (trường đại học Harward): "Chiến lược kinh doanh bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó" (Bùi Văn Đông (2011), Chiến lược và sách lược kinh doanh, NXB Lao Động, Hà Nội). - Về góc độ lịch sử: “Chiến lƣợc” – “Strategos” là một thuật ngữ từ tiếng Hy Lạp dùng trong quân sự, bắt nguồn từ những trận đánh lớn diễn ra cách đây hàng ngàn năm. Khi đó những người chỉ huy muốn phân tích và đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của quân thù, kết hợp với thời cơ như thiên thời, địa lợi, nhân hoà để đưa ra những quyết định chiến lược quan trọng đánh mạnh vào những chỗ yếu nhất của quân địch nhằm giành thắng lợi trên chiến trường. Dưới góc độ này chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng.
- Về góc độ kinh tế: Dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh, trở thành một mắt xích quan trọng trong công tác quản trị doanh nghiệp và thuật ngữ “Chiến lược kinh doanh” ra đời. Từ cách tiếp cận trên có thể định nghĩa chiến lược kinh doanh như sau: “Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là trong điều kiện kinh tế thị trường nhất định, căn cứ vào điều kiện khách quan và chủ quan, vào nguồn lực mà doanh nghiệp có thể định ra các biện pháp đảm bảo sự tồn tại, phát triển ổn định, lâu dài theo mục tiêu phát triển mà doanh nghiệp đã đặt ra. Nói cách khác, chiến lược là phương tiện để đạt được mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”. Khái niệm quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là “hệ thống các quyết định và hành động nhằm đạt được thành công lâu dài của tổ chức” [5].
8 z Các quyết định và hành động gắn kết với nhau thành hệ thống hướng tới mục tiêu thành công lâu dài và bền vững, vì vậy quản trị chiến lược sẽ đặt các nhà quản trị trước sự lựa chọn giữa thành tích ngắn hạn với thành công dài hạn, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài… Quản trị chiến chiến lược là hệ thống nhỏ trong hệ thống quản trị doanh doanh nghiệp, nó gắn chặt với quản trị tác nghiệp và quản trị rủi ro. Vai trò của quản trị chiến lƣợc Trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiện nay, chỉ có một điều mà các công ty có thể biết chắc chắn, đó là sự thay đổi. Quá trình quản trị chiến lược như là một hướng đi giúp các tổ chức này vượt qua sóng gió vươn tới tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của mình. Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động trong việc vạch rõ tương lai của mình; nó cho phép một tổ chức có thể tiên phong và gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động (thay vì chỉ phản ứng lại một cách yếu ớt).
Quản trị chiến lược giúp cho các tổ chức tạo ra được các chiến lược tốt hơn thông qua việc vận dụng một cách bài bản hơn, hợp lý hơn và tiếp cận tốt hơn đối với những sự lựa chọn chiến lược. Quản trị chiến lược đem lại cho chúng ta những lợi ích sau [8]: - Giúp nhận dạng, sắp xếp ưu tiên và tận dụng các cơ hội. - Đưa ra cách nhìn thực tế về các khó khăn của công tác quản trị. - Đưa ra một đề cương cho việc phát triển đồng bộ các hoạt động và điều khiển.
- Làm tối thiểu hóa các rủi ro. - Giúp cho các quyết định chủ chốt phục vụ tốt hơn các mục tiêu. - Có sự phân bổ tốt hơn thời gian và nguồn lực cho các cơ hội đã được xác định. 9 z - Cho phép giảm thời gian và nguồn lực cần thiết để sửa đổi những lỗi lầm và các quyết định thời điểm.
- Tạo ra khung sườn cho mối liên hệ giữa các cá nhân trong nội bộ công ty. - Giúp kết hợp những hành vi đơn lẻ thành một nỗ lực chung. - Cung cấp cơ sở cho việc làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân. - Đem lại sự khuyến khích cho những suy nghĩ tiến bộ.
- Mang lại cách thức hợp tác, gắn bó, và hăng say trong việc xử lý các vấn đề cũng như các cơ hội. - Khuyến khích thái độ tích cực đối với sự thay đổi. - Đem lại một mức độ kỷ luật và sự chính thức đối với công tác quản trị trong công ty. Phân loại chiến lƣợc 1.
Căn cứ vào phạm vi chiến lược Trong kinh doanh căn cứ vào phạm vi của chiến lược người ta chia chiến lược ra làm hai loại cơ bản sau: - Chiến lƣợc chung hay còn gọi là chiến lược kinh doanh tổng quát của doanh nghiệp thường đề cập những vấn đề quan trọng nhất, bao quát nhất và có ý nghĩa lâu dài, quyết định vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Chiến lược này liên quan hướng phát triển chủ yếu về hình ảnh tương lai của doanh nghiệp. - Chiến lƣợc bộ phận hay còn gọi là chiến lược kinh doanh từng đặc thù: nhằm giải quyết từng vấn đề trong sản xuất, trong kinh doanh để thực hiện chiến lược tổng quát, thông thường gồm có: + Chiến lược sản xuất + Chiến lược tài chính + Chiến lược thị trường 10 z + Chiến lược marketing + Chiến lược sản phẩm + Chiến lược phân phối + Chiến lược khuyến mãi + Chiến lược cạnh tranh + Chiến lược tổ chức nhân sự + Chiến lược kinh doanh thị trường quốc tế… 1. Căn cứ vào hướng tiếp cận thị trường Sự hình thành các loại chiến lược theo căn cứ này trong thực tế rất đa dạng và phong phú tuỳ theo trạng thái của mỗi doanh nghiệp mà triển khai chiến lược của mình.
Tuy nhiên các chiến lược này thường được xây dựng và mô phỏng theo các chiến lược chuẩn. Hiện nay có các loại chiến lược chuẩn sau: Bảng 1.1: Các loại chiến lƣợc phổ biến CÁC YẾU TỐ LỰA CHỌN Thị Ngành sản Cấp độ CHIẾN Sản phẩm Công nghệ trƣờng xuất ngành LƢỢC Hiện Hiệ Hiện Hiện Hiện Mới Mới Mới Mới Mới tại n tại tại tại tại 1. Tăng trƣởng tập trung X X X X X - Thâm nhập thị X X X X X trường - Phát X X X X X triển thị 11 z trường - Phát triển sản phẩm 2. Phát triển hội nhập X X X X X - Hội nhập dọc ngược X X X X X chiều - Hội nhập X X X X X dọc thuận chiều - Hội nhập ngang 3.
Phát triển đa dạng hóa X X X X X X X - Đa dạng hóa đồng X X X X X X tâm - Đa dạng X X X X X X hóa ngang - Đa dạng hóa hỗn hợp (Nguồn: Tạp chí phát triển kinh tế) 12 z Chiến lƣợc tăng trƣởng tập trung: là các chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải thiện các sản phẩm, dịch vụ hoặc thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào khác. Khi theo đuổi chiến lược này doanh nghiệp cần hết sức cố gắng để khai thác mọi cơ hội có được về các sản phẩm hiện đang sản xuất hoặc các thị trường hiện đang tiêu thụ bằng cách thực hiện tốt hơn các công việc mà họ đang tiến hành. Lợi thế của chiến lược tăng trưởng tập trung là cho phép doanh nghiệp tập hợp mọi nguồn lực vào các hoạt động sở trường và truyền thống của mình để khai thác điểm mạnh. Chiến lược tăng trưởng tập trung có thể triển khai theo 3 hướng sau: + Chiến lƣợc thâm nhập thị trƣờng: là tìm cách tăng trưởng các sản phẩm hiện đang sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên thị trường hiện đang tiêu thụ và công nghệ hiện đại.
Chiến lược này đòi hỏi doanh nghiệp phải thông qua các nỗ lực mạnh mẽ về marketing như chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách khuyến mãi nhằm tăng sức mua của khách hàng hiện có và tăng thêm khách hàng mới.