Phần Mở đầu, Kết luận, Một số giải pháp nhằm nâng cáo hiệu quả hỗ trợ cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ và Phụ lục, nội dung chính chia làm 2 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu. Chƣơng 1 nêu các khái niệm, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, khái lƣợc về tình hình thực hiện chính sách trợ giúp trẻ khuyết tật và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu. Hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh Nội dung chƣơng 2 tập trung mô tả thực trạng các hoạt động trợ giúp trẻ khuyết tật thông qua điều tra thực tế; Đánh giá về mức độ hài lòng của trẻ khuyết tật và gia đình của trẻ.
Tìm hiểu những nhu cầu, những mong muốn khác của họ ngoài những nhu cầu đã đƣợc Tổ chƣc đáp ứng. Và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật tại Tổ chức và một số giải pháp đề xuất 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm công cụ 1.
Khái niệm trẻ em và khái niệm người khuyết tật Khái niệm trẻ em Hiê ̣n nay khái niê ̣m “Trẻ em” không đồ ng nhấ t ta ̣i nhiề u quố c gia trên thế giới. Ở Australiavà Anh, trẻ em đƣợc quy định là dƣới 18 tuổ i. Tại Singapore, trẻ em là ngƣời dƣới 14 tuổ i. Trong khi đó ở Hồ ng Kông , trẻ em là nhóm ngƣời dƣới16 tuổ i.
Sở di ̃ có sƣ̣ khác nhau này là do có sƣ̣ khác biê ̣t về điề u kiê ̣n lich ̣ sƣ̉ , kinh tế , văn hóa , xã hội. Mô ̣t lâ ̣p luâ ̣n khác để giải thić h về sƣ̣ khác biệt đó là khả năng của nền kinh tế của m ỗi quốc gia , bởi vì viê ̣c quy đinh ̣ về đô ̣ tuổ i trẻ em bao giờ cũng gắ n với trách nhiê ̣m đảm bảo các quyề n của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân, quyề n con ngƣời nói chung ở mỗi quốc gia. Theo quan điể m của mô ̣t số tổ chƣ́c quố c tế trƣ̣c thuô ̣c Liên hiê ̣p quố c nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chƣ́c Lao đô ̣ng Quố c tế (ILO), Tổ chƣ́c Giáo du ̣c , Khoa ho ̣c và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là ngƣời dƣới 15 tuổ i. Theo Điề u 1, Công ƣớc Quố c tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ƣớc này , trẻ em có nghĩa là dƣới 18 tuổ i, trƣ̀ trƣờng hơ ̣p luâ ̣t pháp áp du ̣ng với trẻ em đó quy đinh ̣ tuổ i thành niên sớm hơn”.
Tại Việt Nam, theo Điề u 11, Luâ ̣t Bảo vê ̣ chăm sóc và giáo du ̣c trẻ em sửa đổi năm 2004 thì “Trẻ em là công dân Viê ̣t Nam dưới 16 tuổ i”. Trong pha ̣m vi của đề tài , chúng tôi vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 11, Luâ ̣t Bảo vê ,̣ chăm sóc và giáo du ̣c trẻ em sửa đổi năm 2004. Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu là những trẻ em lang thang dƣới 16 tuổ i ta ̣i Tổ chƣ́c Trẻ em Rồ ng Xanh, quâ ̣n Hoàn Kiế m, TP Hà Nô ̣i. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm người khuyết tật Khuyết tật là thiếu hụt khả năng thực hiện hoạt động trong cuộc sống hoặc trong phạm vi đƣợc xem là bình thƣờng đối với con ngƣời.
Khuyết tật làm sút kém hoặc làm hạn chế khả năng thực hiện chức năng cá nhân bình thƣờng hoặc theo các mức yêu cầu của thần kinh và thể chất. “Ngƣời khuyết tật là ngƣời không bình thƣờng về sức khỏe do các di chứng hoặc bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả của chấn thƣơng dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần đƣợc xã hội quan tâm giúp đỡ, bảo vệ”. Ngƣời khuyết tật là ngƣời có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với ngƣời khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thƣờng không đƣợc coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số ngƣời có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ đƣợc phục hồi hoàn toàn.
Từ hai định nghĩa trên giúp chúng ta hiểu trẻ em khuyết tật đang tham gia vào chƣơng trình hỗ trợ trẻ khuyết tật tại Tổ chức trẻ em Rồng Xanh là nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế. Các em có những khiếm khuyết về thể chất và tinh thân dẫn đến những khó khăn trong đời sống. Do đó đã đƣợc Tổ chức can thiệp và trợ giúp 1. Công tác xã hội và công tác xã hội với người khuyết tật Công tác xã hội Theo định nghĩa của hiệp hội quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ- NASW, 1970:“Công tác xã hội là một chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy”[Zastrow, 1996: 5] Theo định nghĩa này, có thể thấy, Công tác xã hội là một hoạt động trợ giúp, một dịch vụ xã hội và là một chuyên ngành hƣớng đến sự phát triển con ngƣời và công bằng xã hội.
Công tác xã hội với người khuyết tật Công tác xã hội với ngƣời khuyết tật là sử dụng những kỹ năng chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ những ngƣời khuyết tật có thể thực hiện chức năng xã hội một cách hiệu quả để lấy lại niềm tin vào cuộc sống, tìm cho họ một cuộc sống giản dị bình thƣờng nhƣ bao ngƣời khác, tránh khỏi mặc cảm, tự ti tin tƣởng vào chính bản thân của họ. Đồng thời là cầu nối giữa những ngƣời khuyết tật với những nguồn lực hỗ trợ bên ngoài để giúp họ có thêm sức mạnh cũng nhƣ điều kiện để bắt đầu một cuộc sống mới. Dịch vụ xã hội và dịch vụ công tác xã hội Dịch vụ xã hội Dịch vụ đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau và gắn liền với quá trình phát triển xã hội. Theo Đại từ điển tiếng Việt: dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo dân chúng (Nguyễn Nhƣ Ý, 1999, tr.537, NXB Văn hóa, Đại từ điển tiếng Việt).
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cho rằng dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội tạo ra các sản phẩm hàng hóa tồn tại dƣới hình thái vô hình nhằm thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con ngƣời. Dịch vụ xã hội (DVXH) theo Alfred Kahn (1973) là các dịch vụ nhằm trợ giúp, thúc đẩy, hay phục hồi chức năng của cá nhân hay gia đình, cung cấp những điều kiện đảm bảo cho phát triển sự xã hội hóa của họ. Các dịch vụ xã hội có thể do cá nhân hay cơ quan tổ chức cung cấp, nó không chỉ có chức năng phục vụ cho cá nhân, gia đình mà cho cả những nhóm xã hội, tham gia vào giải quyết các vấn đề, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Dịch vụ xã hội gắn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com liền với nhiệm vụ chức năng là phục vụ xã hội, thỏa mãn nhu cầu của nguời dân trong cộng đồng xã hội.
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Tuấn (2012) cũng xem DVXH là những dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn, vì con ngƣời, là hoạt động mang bản chất kinh tế-xã hội, do nhà nƣớc, thị trƣờng hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tƣ của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học,công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác. Và dịch vụ xã hội đƣợc Liên hợp quốc định nghĩa nhƣ sau: Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tƣợng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Nhƣ vậy: Dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận. Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính: - Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở.mọi đối tƣợng yếu thế là trẻ em, ngƣời tàn tật mất khả năng lao động đều phải đƣợc đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực.
- Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dƣỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng nhƣ tinh thần cho các đối tƣợng. - Dịch vụ giáo dục: Trƣờng học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt. - Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan trọng đối với các đối tƣợng thuộc nhóm đối tƣợng công tác xã hội, hoạt động giải trí nhƣ văn nghệ, thể thao,. nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tƣợng.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dịch vụ công tác xã hội Trong một số tài liệu chúng ta còn thƣờng gặp một thuật ngữ là dịch vụ công tác xã hội. Có thể hiểu dịch vụ CTXH cũng là dịch vụ xã hội, tuy nhiên nó hƣớng nhiều tới các hoạt động hay dịch vụ trợ giúp xã hội cho những ngƣời có vấn đề xã hội, đặc biệt nhóm đối tƣợng có hoàn cảnh khó khăn nhƣ ngƣời khuyết tật,trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngƣời cao tuổi/ ngƣời già cô đơn, không nơi nƣơng tựa, ngƣời có HIV/AIDS hay ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS, ngƣời bị bạo lực gia đình, ngƣời nghiện ma túy, ngƣời có vấn đề tâm thần, ngƣời nghèo.