Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam với khoảng 6,7 triệu ngƣời từ 5 tuổi trở lên là ngƣời khuyết tật tƣơng ứng với khoảng 7,8% dân số(1). Trong đó ngƣời khuyết tật vận động chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng số các dạng tật cụ thể nhƣ sau: 29% khuyết tật vận động; 17% khuyết tật thần kinh, tâm thần; 14% tật nhìn; 16% khuyết tật nghe, nói; 7% tật trí tuệ và 17% các dạng tật khác. Tại địa bàn quận Hà Đông có 1.900 NKT chiếm 0,67% trong tổng dân số 284.
Ngƣời khuyết tật là một trong những nhóm dân cƣ chịu thiệt thòi nhất trong xã hội hiện nay, khi hoạt động sinh sống hòa nhập xã hội họ gặp phải rất nhiều những khó khăn và cản trở. Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân đã và đang đẩy mạnh sự quan tâm hỗ trợ NKT có đƣợc cuộc sống tốt hơn về cả vật chất lẫn tinh thần nhằm đảm bảo công bằng, vì con ngƣời và phát triển bền vững quốc gia. Mặc dù vậy thực tế vẫn còn những vấn đề mà NKT đang gặp phải, đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chƣa biết hoặc chƣa biết hoặc chƣa có điều kiện, khả năng tiếp cập, hiểu biết về những chính sách ƣu đãi dành cho họ…, điều đó đã dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế. Cơ sở hành lang pháp lý về quyền của NKT bằng hệ thống pháp luật, chính sách, chƣơng trình nhƣ: Luật ngƣời khuyết tật Việt Nam, các thông tƣ, nghị định hƣớng dẫn thi hành luật, các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếp cận công trình công cộng đã đƣợc ban hành áp dụng thực hiện và có những thành tựu nhất định.
Tuy nhiên việc thực thi các chính sách hỗ trợ ở cấp địa phƣơng còn có những hạn chế nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó có 2 nhóm nguyên nhân sau: thứ nhất do sự chƣa phổ biến sâu 1 Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 2 Báo cáo số liệu NKT quận Hà Đông năm 2014 – Sở Lao động Thƣơng binh và Xã hội TP Hà Nội cung cấp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng về quyền của NKT đến với cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp gúp đỡ NKT cũng nhƣ các tổ chức của NKT và bản thân họ còn hạn chế, thứ hai là sự thực thi các chính sách quyền của NKT còn thiếu sự quan tâm của tất cả những bên liên đới. Bài nghiên cứu tôi muốn làm rõ việc thực hiện hỗ trợ NKT VĐ trong việc tiếp cận sử dụng hiệu quả các công trình công cộng là Ủy ban nhân dân và trạm y tế từ tuyến huyện xuống xã với hai hoạt động cụ thể là tƣ vấn pháp lý về quyền tiếp cận và vận động việc thực thi chính sách về quyền tiếp cận cho NKT VĐ tại một địa bàn cụ thể với tên đề tài: “Hỗ trợ người khuyết tật vận động tiếp cận các công trình công cộng tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội”.
Nghiên cứu sẽ chỉ ra những cách thức vận động chính sách phù hợp và sự hỗ trợ về pháp lý cho NKT VĐ về quyền tiếp cận sử dụng các công trình công cộng hiện nay, từ kết quả của đề tài sẽ ghóp phần giúp các nhà quản lý xã hội, nhà hoạch định chính sách, cộng đồng và toàn xã hội có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề nghiên cứu cũng nhƣ sẽ có những tác động thay đổi nhằm xóa bỏ những rào cản giúp NKT VĐ có thể tiếp cận các công trình công cộng dễ dàng hơn, công bằng hơn. Tổng quan nghiên cứu Kinh tế và xã hội hiện nay ngày càng phát triển đi cùng với nó là các nhu cầu của con ngƣời và đặc biệt là quyền con ngƣời cần đƣợc đảm bảo thực hiện đầy đủ để phù hợp với sự phát triển tiến bộ và công bằng xã hội. Chính sách phát triển kinh tế đi đôi với đảm bảo an sinh xã hội đang đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm hơn bao giờ hết, sự đảm bảo về mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội lên mọi cá nhân trong xã hội luôn đƣợc coi trọng và thể chế hóa trong các văn bản luật pháp cụ thể, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đối với các nhóm ngƣời yếu thế trong xã hội nhằm đảm bảo sự đối xử công bằng và cơ hội bình đẳng ngang nhau. Tuy nhiên hiện nay việc thực hiện chƣa đầy đủ các văn bản pháp luật hỗ trợ đảm bảo an sinh xã hội do nhiều nguyên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân chủ quan và khách quan dẫn tới việc một số ngƣời bị mất đi các quyền lợi đã đƣợc quy định.
Cộng đồng ngƣời khuyết tật nói chung và ngƣời khuyết tật vận động nói riêng hiện nay gặp vô vàn những khó khăn trong cuộc sống, họ bị mất đi nhiều cơ hội để hòa nhập phát triển trong đó có việc họ ít có cơ hội tiếp cận các công trình công cộng do mang trong mình những khiếm khuyết cơ thể, cộng với sự hỗ trợ hạn chế từ cộng đồng và gia đình, những rào cản mà ngƣời khuyết tật vận động gặp phải từ môi trƣờng xã hội là rất nhiều và chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ. Đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học xã hội liên quan đến ngƣời khuyết tật nói chung nhƣ: Nghiên cứu về tâm sinh lý của ngƣời khuyết tật; Nghiên cứu về quy mô sự tăng giảm về số lƣợng ngƣời khuyết tật qua các giai đoạn các thời kỳ cụ thể; Sự phân bố địa vực của ngƣời khuyết tật; Sự tiếp cận các công trình giao thông, y tế, trƣờng học, bệnh viện; các nghiên cứu về đánh giá xác định các dạng tật, phân loại khuyết tật, nghiên cứu về việc thực thi chính sách pháp luật về NKT…nhằm giúp ngƣời khuyết tật có thể hòa nhập xã hội tốt hơn. Song những nghiên cứu này thƣờng đề cập chung cho ngƣời khuyết tật, các nghiên cứu nhắc tới sự hỗ trợ ngƣời khuyết tật vận động rất ít, đặc biệt ít là các nghiên cứu về sự hỗ trợ ngƣời khuyết tật vận động tiếp cận các công trình công cộng cụ thể là công trình, cơ quan trụ sở làm việc thuộc UBND và TYT cấp huyện trở xuống xã phƣờng. Các nghiên cứu nước ngoài.
Nghiên cứu nƣớc ngoài “Disability and social inclusion in Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011” (Khuyết tật và hòa nhập xã hội ở Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011). Nghiên cứu xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn hòa nhập xã hội, trong đó nghiên cứu: thu nhập, trình độ học vấn, kinh tế, và tham gia xã hội.và đồng thời chỉ ra rằng yếu tố mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trợ NKT tham gia hòa nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Báo cáo này nêu lên sự khác biệt giữa NKT và không khuyết tật trong việc tham gia hòa nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các số liệu thu thập đƣợc để đánh giá mức độ đói nghèo, sự tham gia giáo dục.
Đồng thời tìm hiểu thêm mức độ ảnh hƣởng của NKT đến cuộc sống hàng ngày và tới những ngƣời khác. Báo cáo cũng nhấn mạnh đến yếu tố khuyết tật có ảnh hƣởng lớn đến đời sống của NKT, thiết kế nơi làm việc không phù hợp với các dạng tật, sự kỳ thị của cộng đồng và việc tiếp cận giao thông đi lại còn khó khăn. Nghiên cứu nƣớc ngoài “The National Disability Strategy report, Council of Australian Gorvement 2012” (Báo cáo chiến lƣợc Quốc Gia về NKT, Hội đồng chính phủ Úc, 2012). Chiến lƣợc NKT quốc gia đã đƣa ra bản kế hoạch mƣời năm để cải thiện cuộc sống cho NKT Úc.
Kế hoạch này sử dụng sự đồng bộ và thống nhất của tất cả các ban ngành địa phƣơng về chính sách và chƣơng trình qua đó cho phép NKT thực hiện đầy đủ các chức năng, tiềm năng của họ nhƣ những công dân khác. Chiến lƣợc này đóng góp một vai trò không nhỏ trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền lợi cho NKT, từ đó đảm bảo các chính sách mà NKT và gia đình họ đƣợc hƣởng. Một trong sáu khía cạnh ƣu tiên hành động giành cho NKT, gia đình và ngƣời chăm sóc họ có khía cạnh liên quan đến hỗ trợ cho NKT, đó là “NKT có thể đƣợc tiếp cận các công trình giao thông, công viên, các tòa nhà và nhà ở, thông tin kĩ thuật số và công nghệ truyền thông, đời sống dân sự , thể thao, giải trí văn hóa… “Thứ hai là Quan tâm đến hệ thống giáo dục dành cho NKT và khả năng tham gia học tập của NKT”. Chiến lƣợc này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền con ngƣời của ngƣời khuyết tật.
Nó sẽ giúp đảm bảo rằng các nguyên tắc làm cơ sở Công ƣớc đƣợc kết hợp vào các chính sách và chƣơng trình ảnh hƣởng tới ngƣời khuyết tật, gia đình và ngƣời chăm sóc họ. Vì lợi ích của tất cả mọi ngƣời, các rào cản đối với những đóng góp có thể đƣợc thực hiện bởi những ngƣời có khuyết tật, gia đình và ngƣời chăm sóc cần đƣợc loại bỏ. Chiến lƣợc vƣợt ra ngoài hệ thống chuyên gia hỗ trợ ngƣời khuyết tật đƣợc cung cấp bởi khối thịnh vƣợng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung, các quốc gia và vùng lãnh thổ theo Hiệp định ngƣời khuyết tật quốc gia (NDA). Dựa vào những luận điểm của hai công trình nghiên cứu báo cáo trên để phục vụ cho nghiên cứu khoa học của mình.
Hai công trình nghiên cứu khoa học nên trên đã tập trung rất nhiều vào khả năng hòa nhập xã hội của ngƣời khuyết tật, đƣa ra những luận điểm về sự khó khăn mà NKT phải đối mặt trong cuộc sống. Nhƣng việc đƣa ra các hƣớng hỗ trợ cụ thể cho ngƣời khuyết tật vận động tiếp cận các công trình cơ quan trụ sở làm việc công cộng nhƣ UBND và TYT thì chƣa đƣợc đề cập mà chỉ nói về thực trạng khó khăn mà NKT gặp phải mà thôi. Các nghiên cứu trong nước Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con ngƣời ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II. Báo cáo này đƣợc soạn thảo theo hƣớng dẫn tại Nghị quyết số 60/251 ngày 15/3/2006 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghị quyết số 5/1 ngày 18/06/2007 và Quyết định số 17/119 ngày 19/6/2011 của Hội đồng Nhân quyền nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện các quyền con ngƣời trên lãnh thổ Việt Nam.