đặt vấn đề 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhƣ trên, ta có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của nguồn vốn đầu tƣ cho khoa học và công nghệ nhƣ sau: Thứ nhất, đối tƣợng đầu tƣ không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh để nhà đầu tƣ trực tiếp thu lợi nhuận, thu đƣợc một giá trị lớn hơn giá trị vốn đã bỏ ra, mà khoản đầu tƣ này còn lấy đối tƣợng là phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai tìm kiếm, phát hiện tri thức mới và vận dụng những tri thức đó vào việc tạo ra những phƣơng tiện, phƣơng pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lƣợng cuộc sống xã hội. Nó không là bộ phận đầu tƣ trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lƣu động, mà là là bộ phận đầu tƣ để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lƣợng của sự tăng trƣởng. Đầu tƣ cho phát triển khoa học và công nghệ thực chất là đầu tƣ cho phát triển tri thức. Bởi vậy, đây là hình thức đầu tƣ có tính “sống còn” trong việc nâng cao năng suất lao động của từng doanh nghiệp cũng nhƣ thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Thứ hai, xét theo chu trình nghiên cứu và triển khai đến sản xuất hàng loạt, thì hoạt động khoa học và công nghệ nằm trong giai đoạn trƣớc khi đƣa ra sản xuất đại trà, hàng loạt. Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các đề tài, dự án khoa học và công nghệ mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ. Sản phẩm của đề tài, dự án khoa học và công nghệ có thể là tri thức mới, là công nghệ hoàn chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả năng thƣơng mại hóa. Sản phẩm của khoa học và công nghệ thực chất là tri thức, chất xám nên khó lƣợng định, đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất hữu hình nhƣ bằng sáng chế hoặc vô hình dƣới dạng ý tƣởng công nghệ.
Việc xác định giá trị của hàng hóa này là điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc. Thực tế cho thấy, sự thành công trong việc tạo ra tri thức, công nghệ và khả năng chuyển giao, thƣơng mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, xã hội, v. Điều này có nghĩa là đầu tƣ vào các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thƣờng có độ mạo hiểm và rủi ro 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣơng đối. Những rủi ro này thƣờng gắn với rủi ro về mặt công nghệ và rủi ro về mặt thị trƣờng.
Rủi ro về mặt công nghệ gắn nhiều tới các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố đầu vào khác của đề tài, dự án (kinh tế, tài chính). Ví dụ, Edison - một nhà sáng chế ra dây tóc bóng đèn điện, đã thất bại hàng nghìn lần thí nghiệm mới chế tạo thành công dây tóc đèn điện, Marie Curie cũng thất bại hàng nghìn lần mới phát minh ra chất phóng xạ uranium. Điều này nghĩa là nếu sử dụng tiền túi tự đầu tƣ để nghiên cứu thì sự mạo hiểm có thể dẫn đến nguy hiểm. Thực tế, đã có nhiều nhà khoa học ở các nƣớc tƣ bản công nghiệp bị phá sản vì thất bại.
Rủi ro về mặt thị trƣờng gắn nhiều tới các yếu tố liên quan tới yếu tố nhu cầu cầu (nhu cầu và sức mua) của thị trƣờng. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ tiềm ẩn sự mạo hiểm. Ngay cả tại các nƣớc phát triển, tỷ lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên dƣới 20%. Tuy vậy, đi cùng với nó, một dự án khi thành công (tạo ra sản phẩm là tri thức, công nghệ hoàn chỉnh, đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng), thì nhà đầu tƣ sẽ thu đƣợc lợi nhuận lớn, thậm chí là rất lớn nếu đó là những dự án mang tính đột phá.
Đây chính là một điểm khá hấp dẫn các nhà đầu tƣ. Thứ ba, trong kinh tế thị trƣờng, do áp lực cạnh tranh và lợi nhuận, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều phải coi phát triển khoa học và đổi mới công nghệ sản xuất là một đòi hỏi có tính sống còn. Bí quyết công nghệ phải có chủ sở hữu. Việc sản xuất và mua bán loại tài sản này tất yếu sẽ diễn ra, do đó tất yếu hình thành và phát triển thị trƣờng công nghệ.
Kinh tế thị trƣờng càng phát triển, càng thúc đẩy phân công, chuyên môn hóa sâu. Việc một chủ thể có đƣợc một sản phẩm công nghệ cũng không nhất thiết phải do chính chủ đó tạo ra. Họ có thể mua trên thị trƣờng. Do đó, tồn tại quan hệ cung - cầu về sản phẩm công nghệ.
Dòng chảy của vốn đầu tƣ cho khoa học và công nghệ cũng sẽ tuân theo quan hệ cung - cầu trên thị trƣờng. Tức là ngƣời ta chỉ đầu tƣ vào lĩnh vực hay dự án khoa học và công nghệ nào mà xã hội có nhu cầu. Theo quy luật về dòng chảy của các nguồn 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vốn đầu tƣ sản xuất, kinh doanh, thì sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ kinh tế nên đầu tƣ vào dự án khoa học và công nghệ nào và mức độ nhiều hay ít. Bởi vì loại vốn đầu tƣ này cũng tìm kiếm lợi nhuận.
Nó sẽ vận động từ nơi hoạt động đầu tƣ kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tƣ có hiệu quả hơn. Trên thị trƣờng công nghệ, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với tƣ cách là ngƣời bán (nghiên cứu, tìm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khách hàng), và cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp với tƣ cách là ngƣời mua (lựa chọn sản phẩm tốt nhất của các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển). Điều đó có nghĩa là trong kinh tế thị trƣờng, đầu tƣ cho phát triển khoa học và công nghệ không chỉ đơn thuần là công việc đƣợc Nhà nƣớc bao cấp nhƣ đã hiểu và làm trƣớc đây ở nƣớc ta. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ trƣớc hết phải là hoạt động đầu tƣ cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp không phân biệt thuộc thành phần kinh tế nào trong cơ chế thị trƣờng.
Vì khoản đầu tƣ này gắn với lợi ích thiết thân của mỗi chủ kinh tế. Tuy nhiên, đầu tƣ vào khoa học và công nghệ không chỉ đơn thuần là vì bản thân khoa học và công nghệ, mà sâu xa hơn là vì đầu tƣ đó có đem lại cho chủ sản xuất kinh doanh một hàng hóa và dịch vụ nào đó có chi phí thấp hơn và có chất lƣợng sản phẩm cao hơn năng lực hiện có hay không. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ là khoản đầu tƣ phái sinh, chỉ xuất hiện khi có nhu cầu đầu tƣ tạo sản phẩm mới hoặc làm tăng thêm năng lực sản xuất kinh doanh của một hàng hóa, dịch vụ nào đó trên thị trƣờng. Thứ tƣ, do hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ có độ trễ nhất định, không dễ thấy, nên việc đầu tƣ không thể đòi hỏi nhìn thấy hiệu quả ngay lập tức.
Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ là đầu tƣ phát triển, đầu tƣ cho tƣơng lai. Nghiên cứu đã mất nhiều thời gian, đƣa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cũng cần có thời gian, để kết quả nghiên cứu phát huy hiệu quả lại cần thêm thời gian nữa. Đây chính là quá trình “thƣơng mại hóa” kết quả nghiên cứu. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong lịch sử, nhiều phát minh vĩ đại phải hàng chục năm sau mới đƣợc xã hội biết đến.
Nhƣng nếu không đầu tƣ cho nghiên cứu hôm nay thì không bao giờ có kết quả ngày mai. Đầu tƣ cho khoa học và công nghệ ngoài hiệu quả trực tiếp, còn có hiệu quả tiềm năng nhƣ: đầu thập niên 70 thế kỷ XX, Việt Nam bắt đầu nghiên cứu về ƣu thế lai, 25 năm sau đánh bật đƣợc các công ty nƣớc ngoài, giành lại thị phần ngô giống lai ở Việt Nam; hiệu quả mang tính tích hợp nhƣ: Việt Nam chặn đứng đƣợc dịch SARS sớm nhất thế giới là nhờ công của các nhà nghiên cứu siêu vi trùng, dịch tễ học, bác sĩ điều trị; hiệu quả gián tiếp nhƣ: công trình nghiên cứu sản xuất dây hàn lõi thuốc bằng vật liệu trong nƣớc ngoài hiệu quả kinh tế còn góp phần vào nâng cao chất lƣợng đóng tàu của Việt Nam. Nhiều sản phẩm khoa học mang lại hiệu quả lớn nhƣng là hiệu quả gián tiếp hoặc vô hình. Ví dụ, một phần mềm diệt virus máy tính.
Hiệu quả kinh tế trực tiếp của nó rất khó nhìn thấy. Nhƣng ở một nƣớc có khoảng 10 triệu máy tính cá nhân, nếu không có phần mềm diệt virus hiệu quả, khi bị virus tấn công trên diện rộng, chi phí sửa chữa một máy có thể tới vài chục đô la. Nhân lên cả xã hội thì tổn thất là rất lớn, chƣa kể thiệt hại do cơ sở dữ liệu quản lý của cả xã hội bị phá hủy, trong khi việc bỏ ra vài nghìn đôla để đầu tƣ nghiên cứu phần mềm diệt virus có thể cứu đƣợc cả chục triệu cái máy tính trên, giảm tổn thất cho xã hội hàng nghìn tỷ đồng. Thứ năm, đầu tƣ cho khoa học và công nghệ cũng là hoạt động đầu tƣ trong kinh tế thị trƣờng để tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Do vậy, nguồn huy động vốn cho hoạt động đầu tƣ này cũng tất yếu thông qua thị trƣờng. Các hình thức tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu và quỹ đầu tƣ cũng là kênh dẫn vốn thiết yếu cho hoạt động đầu tƣ này. Tuy nhiên, do hoạt động khoa học và công nghệ có độ trễ, hiệu quả hoạt động của nó là gián tiếp hoặc vô hình, nên sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nƣớc là rất cần thiết cho các hoạt động khoa học và công nghệ, nhất là đối với 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nghiên cứu cơ bản, có tính chất đột phá nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia. Vốn đầu tƣ có tầm quan trọng đặc biệt.
Nó là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trƣởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ, cải thiện môi trƣờng. Trên bình diện vĩ mô tất cả các chiến lƣợc, các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội đều rất cần đến vốn đầu tƣ. Đối với hoạt động khoa học và công nghệ, vốn đầu tƣ có vai trò là điều kiện tiên quyết.