CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 1. Khái niệm Báo điện tử Được ra đời vào tháng 05/1992, Chicago Tribune là tờ báo điện tử đầu tiên trên thế giới. Từ đó, báo điện tử đã có sự phát triển một cách chóng mặt khi chỉ 8 năm sau đó, ước tính con số báo điện tử đã lên tới 8. Bắt đầu từ năm 2000 trở đi, các hãng thông tấn lớn trên thế giới như: AFP, Reuter,.
các đài truyền hình như: CNN, NBC,. các tờ báo như New York Times, Washington Post,. đều có tờ báo điện tử của mình và coi đó là phương tiện dé phát triển thêm công chúng báo chí. Ở nước ta, báo điện tử là khái niệm khá thông dụng.
Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ “báo điện tử”. Điều 3, chương | Luật sửa đôi, bé sung một số điều của Luật báo chí 2016, 103/2016/QHI3 quy định: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dung chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử” [36, tr. Trong cuốn sách Báo chí và đào tạo báo chí, Nxb Thông tan Hà Nội, năm 2010. Tác giả Đức Dũng đưa ra cách hiểu về báo điện tử, đó là một loại hình báo chí “được sinh ra từ sự phát triển vượt bậc về khoa học công nghệ thông tin, hoạt động được nhờ các phương tiện kỹ thuật tiên tiễn, số hóa, các máy tính noi mang server, các phan mém ứng dung.
Trong cuốn sách Báo mang điện tử: Những vấn dé cơ bản, Nxb Chính tri - Hành chính, năm 2011. Tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra khái niệm: “Báo mạng điện tử là một loại hình bao chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet. Báo mạng điện tử bao gồm nhiễu công cụ truyền thống, đó là: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đô hoa (still image & graphic), âm thanh (audio), hình ảnh động (video & animation) và gan 13 đây nhất là các chương trình tương tác (interactive program)” [28, tr. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả xin được dùng chung thuật ngữ “báo điện tử” để chỉ một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và hoạt động trên nên tang Internet.
Bao điện tử cho phép hiểu một cách chính xác về bản chất, đặc trưng của loại hình báo chí này: tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính tức thời, phi định kỳ, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, với cách lưu trữ thông tin dưới dạng siêu văn bản, khả năng siêu liên kết — các trang báo được tổ chức thành từng lớp, có cơ chế “nở” ra với số trang không hạn chế. Báo điện tử gồm 4 đặc trưng chính: khả năng đa phương tiện, tính tức thời và phi định kỳ, tính tương tác, khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin. Tinh da phương tiện: tính đa phương tiện của báo điện tử bao gồm các đặc điểm: (1) kiểu chữ văn bản thông dụng, có sẵn, đảm bảo đọc trên bất kỳ máy tính nào; (2) hình ảnh và đồ họa không chỉ là yếu tố làm tăng tính xác thực của thông tin mà còn là một “công cụ” giúp mắt người đọc được nghỉ ngơi, thoải mái hơn; (3) khả năng tích hợp âm thanh (audio); (4) khả năng tích hợp hình ảnh động (video, animation); (5) khả năng tích hợp những chương trình tương tác khác (interactive program) giúp công chúng có thể tham gia trực tiếp vào các sản phẩm báo chí. Tính tức thoi và phi định kỳ: tính thời sự, cập nhật là một trong những tiêu chí cơ bản nhất của báo điện tử.
Nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính. Quy trình sản xuất thông tin lai đơn giản, dé dàng nên có thé cập nhật, bổ sung bat kỳ lúc nào với số lượng không hạn chế. Chỉ báo điện tử mới có khái niệm “bài báo mở” — tức là bài báo sau khi đã phát hành vẫn còn tiếp tục được cập nhật. Tỉnh tương tác: là đặc điềm chính của công nghệ mới, đòi hỏi mô hình đa chiều trong truyền thông.
Người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn thông tin. Ngoài ra họ còn tham gia vào quá trình cung cấp bố sung thêm thông tin, vì 14 thế khoảng cách giữa nhà báo và bạn đọc được xích gần nhau hơn. Với sự hỗ trợ của công nghệ, bạn đọc có thê gửi bình luận (comment), thư điện tử (email) ngay với từng bài báo, từng tác giả và cả tòa soạn. Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin: báo điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thời lượng chương trình như các loại hình báo chí khác.
Thông tin được lưu trữ dưới dạng đĩa từ có dung lượng cực lớn. Với chương trình trực tuyến, các clip trực tuyến, người ta có thé xem bat kỳ lúc nào họ muốn, khi có thời gian. Báo điện tử là một thư viện đúng nghĩa, nó lưu trữ thông tin của quá khứ, hiện tại, nghĩa là người đọc không chỉ xem được các thông tin ở hiện tại mà còn quay về quá khứ đọc những thông tin mà họ quan tâm. Như vậy, với những đặc trưng trên báo điện tử trở thành một trong những công cụ truyền thông vô cùng hiệu quả đối với tất cả lĩnh vực cuộc sống.
Do đó, việc truyền thông hình ảnh người chiến si QDND Việt Nam nói chung và hình ảnh người chiến si QDND Việt Nam trong hoạt động phòng, chống dịch Covid — 19 nói riêng là phù hợp với công nghệ hiện đại. Khai niệm Hình ảnh Thuật ngữ “Hình anh” có nguồn gốc từ tiếng latinh là “Imago” và có quan hệ mật thiết với một từ Latinh khác là “Imitari” - dùng để chỉ sự mô phỏng, phỏng theo. Theo Tir điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa (năm 2000) của Viện ngôn ngữ học, giải thích hình ảnh là: “hinh người, vật cảnh tượng được thu bằng khí cụ quang học như máy ảnh hoặc dé lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là khả năng gợi tả sống động trong cách diễn dat” [ 63, tr. Xét về góc độ của công việc tạo dựng hình ảnh nói chung thì hình ảnh là nghệ thuật mô phỏng hoặc mô tả hình dáng bên ngoài của một đối tượng hoặc con người.
Đó là hình dung về con người, đồ vật hay một tô chức được hình thành trong nhận thức của công chúng thông qua các phương tiện truyền thông. 15 Hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thiện cảm ban đầu bởi những tính chất sau đây: Thứ nhất, hình anh là kênh cung cấp nhiều thông tin cho người nhận, không cần phải dich sang các ngôn ngữ khác. Bang cách này có thể chuyên một lượng thông tin lớn hơn nhiều so với tưởng tượng. Thứ hai, hình ảnh là kênh thông tin cô đọng, được người xem ghi nhớ tốt hơn.
Trong ma trận thông tin hàng ngày, con người không đủ sức tiếp nhận tất cả mọi thông tin mà thường bị thu hút bởi những hình ảnh bắt đầu một cách ấn tượng. Từ sự ấn tượng của hình ảnh ban đầu mà người ta quan tâm hơn đến những thông tin liên quan; nói cách khác, thông tin được truyền qua thị giác và dan được lưu giữ, củng cố trong não bộ. Ví dụ như hình ảnh về đất nước tươi đẹp, về một công ty làm ăn phát đạt, về một vị lãnh đạo tài ba, một thầy giáo tốt. Việc điều chỉnh hình ảnh trong nhiều trường hợp là việc thay thế những đặc điểm thị giác (hoặc những đặc điểm khác) không bản chất thành những đặc điểm mang tính quan trọng hơn theo cách nhìn nhận của một hình ảnh nào đó.
Thứ ba, hình ảnh là kênh thông tin có tác động ngoài tầm kiểm soát của ý thức. Sự tác động đến công chúng phải được thực hiện băng nhiều cách. Cùng một thông điệp cần phải được đưa tới công chúng theo tất cả các cách có thể, trong đó chủ đạo là kênh ngôn ngữ và kênh hình ảnh. Nếu kênh ngôn ngữ tác động đến con người băng lý trí nên chúng sẽ khiến những tắm kính lọc hoài nghi của người nhận thông tin hoạt động nhiều hơn thì những gì được hình ảnh hóa lại nằm ngoài tầm kiểm soát của ý thức.
Những người nhận thông tin theo đó sẽ tự dựng lại toàn bộ bức tranh mà họ đã được nhìn thấy. Họ sẽ coi những kết luận nhận được là suy đoán riêng của mình. Thêm vào đó, thông tin ở cấp độ phi ngôn ngữ sẽ dễ dàng đi vào lòng người hơn. Thứ tư, hình ảnh là kênh thông tin đáng tin cậy.
Thông tin truyền qua kênh hình anh là những thông tin đáng tin cậy, điều này có liên quan tới đặc điểm mang tính tâm lý đơn thuần khi cho rằng những gì chúng ta nhìn thấy đều là 16 thực. Thứ năm, hình ảnh là bức tranh thu nhỏ về con người trong xã hội. Chúng ta cố gắng thể hiện bản thân mình ở phương diện tốt đẹp nhất khi nhấn mạnh những đặc điểm này hay đặc điểm khác của cá nhân. Chúng ta làm điều đó một cách vô thức, đặc biệt là trong những tình huống như khi lần đầu làm quen với một người mà ta mong họ có cảm tình với mình.
Một nhà nghiên cứu đã từng khẳng định: Hình ảnh của cá nhân bạn là bức tranh nhỏ về bạn, ảnh của mình giống như quảng cáo. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về hình ảnh. Từ những nghiên cứu trên, tác giả luận văn tạm thời đưa ra khái niệm về “hình ảnh” như sau: “Hình ảnh là ngôn ngữ đặc biệt mô tả về thế giới vạn vật, được con người thu nhận qua các giác quan của mình, qua bộ não, hoặc các công cụ ghi nhớ khác”. Quân đột nhân dân Theo quy định tại Điều 25 Luật Quốc phòng 2018 thì: “OPND là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bao gom lực lượng thường trực và luc lượng dự bi động viên.
Lực lượng thường trực của QĐÐĐND có Bộ đội chu lực và Bộ đội địa phương” [37]. Ngày 22/12 hàng năm là Ngày truyền thống của QĐND, Ngày hội quốc phòng toàn dân. Nhu vậy, theo định nghĩa nay chúng ta có thé hiểu một cách đơn giản là QDND Việt Nam là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân. QDND thực hiện sứ mệnh giữ nước và xây dựng đất nước băng sức mạnh tông hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.