Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về truyền thông hình ảnh người cán bộ y tế trong phòng, chống dịch COVID-19 trên báo điện tử. Chương 2: Thực trạng hình ảnh người cán bộ y tế trong phòng, chống dịch COVID-19 trên báo điện tử. Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng truyền thông hình ảnh người cán bộ y tế trên báo điện tử. 18 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE TRUYEN THONG HINH ANH NGƯỜI CAN BO Y TE TRONG PHONG, CHONG DICH COVID-19 TREN BAO DIEN TU 1.
Cac khai niém co ban 1. Truyền thông Truyền thông trong tiếng anh là Communication có nghĩa là sự truyền đạt, thông tin, thông bao, giao tiếp, trao đối, liên lạc. Theo tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông: “Thuật ngữ truyền thông có nguon gốc từ tiếng Latinh “Commune” có nghĩa là chung hay cộng đồng. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện dé đạt đến sự hiểu biết lan nhau, giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội” [24, tr.
“Truyén thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức ” [24, tr. Truyền thông được mô tả như việc truyền đạt ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người, một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, văn bản, hình ảnh, hoặc tín hiệu. Về thực chất đó chính là quá trình trao đổi tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức thái độ chuyền đôi hành vi của con người và xã hội. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng trong cuốn Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản có nêu: “7ruyên thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cam.
chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiễu người nhằm tăng cường tính hiểu biết lần nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu câu phát 19 triển của cá nhân, nhóm, cong dong, xã hội ” [25, tr. Truyền thông thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, mỗi cá nhân bộc lộ khía cạnh khác nhau của đời sống, cần hiểu biết tâm tư, tình cảm, thái độ của mỗi người trước mỗi van dé, sự kiện dé có thé tự điều chỉnh hành động của mình sao cho phù hợp. Qúa trình truyền thông giúp mọi người hiểu mình hơn, nam bắt được thông tin xung quanh, đánh giá đúng khả năng, xác định phương hướng, cách thức cho những hành vi của bản thân. Lý thuyết truyền thông thể hiện mối quan hệ giữa các dữ kiện truyền thông trong hành vi của con người và truyền thông là quá trình có liên quan đến nhận thức, hành vi con người luôn có một khoảng cách, quá trình truyền thông tạo nên sự đồng nhất và có thể rút ngắn khoảng cách ấy.
Để thực hiện việc truyền thông thì người gửi thông tin dưới hình thức hình ảnh, video. truyền tải trên các phương tiện đến người nhận, phương tiện truyền tải thông tin hiện đại thì khoảng cách truyền thông càng lớn, thời gian thực hiện truyền thông cảng được rút ngắn. Truyền thông được hiểu đơn giản là sự truyền đạt suy nghĩ, ý kiến hoặc thông tin qua lời nói, chữ viết hoặc cử chỉ hành động nao đó. Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm truyền thông theo cách hiểu: Truyền thông là quá trình trao doi thông tin giữa hai hay nhiêu người nham tăng cường sự hiểu biết lan nhau, có thé làm thay đối nhận thức, hành vi và thái độ phù hợp với lợi ích của các bên tham gia truyền thông.
Công tác truyền thông đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thông tin những vấn đề trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, văn hóa, xã hội. Đặc biệt, trong giai đoạn phòng, chống dịch COVID-19 thì vai trò của truyền thông là rất lớn trong việc tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các biện pháp phòng, chống dịch đến người dân. 20 Trong giai đoạn phòng, chống dich COVID-19, các phóng viên, nhà báo “quay cuồng” dé cập nhật nhanh những thông tin nhanh nhất về tình hình dich bệnh, những kiến thức, biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả đến người dân. Những nơi “tâm dịch” đều có mặt của những người làm báo thâm nhập dé tác nghiệp, đưa tin nhanh chóng, kịp thời nhất.
Có thể thấy hoạt động của báo chí và truyền thông không thê tách rời, báo chí và truyền thông đã gắn kết, cùng tạo nên một sức mạnh lớn trong cuộc chiến chống lại dịch COVID-19. Báo điện tử Tháng 5 năm 1992, Chicago Tribune được thành lập, đây là tờ báo điện tử đầu tiên trên thế giới, từ đó báo điện tử phát triển nhanh chóng, đến năm 1999 số lượng báo điện tử ước tính có khoảng 8. Đến năm 2000, các hãng thông tấn lớn như AFP, Reuters; kênh truyền hình như CNN, NBC; các báo như The New York Times, Washington Post. đều có báo điện tử.
Ngày 31/12/1997, sau khi kết nỗi mạng Internet, tạp chí Quê hương có địa chỉ: http://quehuongonline.vn đã trở thành tờ báo điện tử đầu tiên ở nước ta. Đây là một bước tiễn quan trọng, đánh dấu sự ra đời của báo điện tử, kề từ đó cho đến nay báo điện tử ngày càng phát triển với số lượng nhiều. Báo điện tử là sự tích hợp của công nghệ đa phương tiện, không chỉ văn bản, hình ảnh mà còn có cả âm thanh, video, đồ hoa., báo điện tử không bị giới hạn, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý, có khả năng truyền tải thông tin khắp toàn cầu. Điều 3, Luật Báo chí 2016 quy định rõ: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử [10, tr.
Trong cuốn sách Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản, NXB Chính trị - Hành chính, năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang nêu khái niệm: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình 21 thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet. Báo mạng điện tử gồm nhiều công cụ truyền thống là: văn bản (text); hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic); âm thanh (audio); hình ảnh động (video & animation); chương trình tương tac (interactive program)” [11, tr. Trong các văn bản pháp quy của Nhà nước đều sử dụng thuật ngữ Báo điện tử, đây là một khái niệm khá thông dụng được sử dụng phổ biến. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ Báo điện tử để chỉ một loại hình báo chí xây dựng dưới hình thức một trang web và hoạt động trên nền tảng Internet, xuất bản bởi tòa soạn điện tử, người đọc trên máy tính, điện thoại di động, smart phone có kết nối internet.
e Đặc trưng cơ bản của báo điện tử Báo điện tử có những đặc trưng cơ bản, bao gồm: tính đa phương tiện; tương tác cao; tính tức thời, phi định kỳ; truyền tải thông tin không hạn chế, lưu trữ thông tin dưới dạng siêu văn bản, khả năng siêu liên kết, các trang báo được tổ chức theo từng lớp, không giới hạn số lượng trang, khuôn khổ. Tinh da phương tiện (Multimedia): Báo điện tu có kha năng tích hợp cùng một lúc nhiều phương tiện truyền tải thông tin, bao gồm: văn bản (text), hình ảnh tĩnh (still image), hình anh động (animation), đồ hoa (graphic), âm thanh (audio), video. Công chúng sử dụng báo điện tử để đọc, tìm kiếm thông tin mình quan tâm, chủ động xem những bài viết ở bất kỳ chuyên mục nào, không giống như báo in. Có thé quan sát trực tiếp hình ảnh, âm thanh, video clip bất cứ lúc nào, không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian, được độc giả sử dụng phô biến hiện nay.
Tính tức thời và phi định kỳ: Báo điện tử với quy trình sản xuất thông tin đơn giản, thuận tiện, nội dung thông tin không bị giới hạn, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính, báo điện tử vượt qua được các rào cản mà các loại hình báo chí khác gặp phải. Các phóng viên, nhà báo có thé dé dàng tiếp 22 cận sự kiện, thu thập thông tin viết bài gửi về tòa soạn qua hòm thư điện tử; ngoài ra có thể update thông tin thường xuyên, liên tục các sự kiện đang diễn ra. Với tốc độ thông tin nhanh, số lượng thông tin nhiều đáp ứng kịp thời nhu cầu đọc thông tin của độc giả. Tỉnh tương tác: Công chúng có thé tương tác, phản hồi với tòa soạn, giữa công chúng với nhà báo, công chúng với nhân vật trong tác pham, quá trình tương tác diễn ra nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác.
Báo điện tử có khả năng tác động qua lại giữa người sản xuất thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng và thuận tiện, giúp cơ quan báo chí đáp ứng thêm nhu cầu thông tin của công chúng. Trên mỗi bài viết, tác phẩm báo chí đều có mục bình luận, phản hồi, email. để công chúng có thể đóng góp, phát biểu ý kiến của mình về thông tin liên quan. Khả năng lưu trữ và tìm kiểm thông tin: Công chúng có thê tìm kiếm thông tin rất nhanh bằng cách gõ thông tin cần tìm và ấn “tìm kiếm”, báo điện tử có khả năng lưu trữ được dung lượng thông tin cần tìm lớn.
Thông tin tìm kiếm theo chủ đề, ngày tháng, từ khóa nên có thé tìm kiếm thông tin được đăng tải trước đó trong khoảng thời gian dài. Như vậy, với tính chất của báo điện tử, nó trở thành một trong những phương tiện thông tin hữu hiệu nhất đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, việc xây dựng thông điệp truyền thông hình ảnh người cán bộ y tế phù hợp với công nghệ hiện đại, phản ánh kip thời thông tin cho công chúng. e Vai trò của báo điện tử trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 Khoản 1, Điều 4, Luật Báo chí 2016 nêu rõ: “Báo chí nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tô chức chính trị xã hội — nghê nghiệp, tô chức xã hội, tô chức xã 23 hội nghề nghiệp, là diễn đàn của nhân dân” [10].