Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch giai đoạn 2012 - 2015 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hoàng Thạch. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Khái niệm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Trong lý luận và thực tiễn có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm nhìn nhận vốn dưới một góc độ nhất định. Theo Paul Samuelson và William D.
Nordhaus thì: “Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hoá là vốn nói chung, một nhân tố sản xuất. Một hàng hoá làm vốn, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ: Nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho hàng), vốn tài chính (tiền, chứng khoán, tín phiếu)” [19]. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn, trạng thái biểu hiện của vốn và đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn là chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất nhưng hạn chế cơ bản của quan điểm này là chưa cho thấy mục đích sử dụng của vốn. Theo Karl Marx: “Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”, tức là một yếu tố khi sử dụng trong quá trình sản xuất sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó.
Tuy nhiên quan niệm này cũng mới chỉ đề cập đến phạm trù tư bản là tiền khi được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra giá trị thặng dư. Theo ý nghĩa kinh tế, một số quan điểm lại cho rằng: vốn kinh doanh bao gồm các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ lao động trong doanh nghiệp, các lợi thế cạnh tranh như vị trí, uy tín. Từ các quan điểm trên, có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là một yếu tố của sản xuất, bao gồm tất cả tài sản hữu hình và vô hình, tồn tại dưới hình 7 thái tiền tệ và hiện vật mà doanh nghiệp đang sử dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hình thái tiền tệ tạo thuận lợi cho việc tổng hợp, phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nên khi xét dưới hình thái giá trị có thể thấy rằng: Trong quá trình kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền.
Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp như sau: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết dùng trong hoạt động kinh doanh. Nói cách khác vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Như vậy, vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Đặc điểm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất: Vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản nhất định.
Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản có thực mà doanh nghiệp huy động và sử dụng vào sản xuất kinh doanh, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền, phát minh, sáng chế,… Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời - vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để thực sự trở thành vốn thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng xuất phát điểm và đích đến của vòng tuần hoàn phải là tiền - tiền quay về nơi xuất phát với giá trị ngày càng lớn hơn. Thứ ba: Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng.
Nếu vốn nằm rải rác ở khắp nơi mà không được tích tụ, tập 8 trung đến một lượng đủ lớn thì tác dụng của vốn sẽ không được phát huy hoặc phát huy không đáng kể. Do đó, khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn như phát hành chứng khoán, kêu gọi liên doanh, liên kết…. Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Giá trị thời gian của vốn phát sinh do trong điều kiện nền kinh tế thị trường, dưới ảnh hưởng của nhân tố giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau, khiến cho một đồng vốn ở thời điểm này sẽ có giá trị khác hẳn ở một thời điểm khác.
Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tư và xác định hiệu quả do đầu tư mang lại, doanh nghiệp cần chú ý xem xét đến yếu tố thời gian của vốn. Thứ năm: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tránh hiện tượng thất thoát, lãng phí. Kinh tế thị trường có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên tuỳ thuộc vào hình thức đầu tư, chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không, song không bao giờ có một đồng vốn vô chủ và người sử dụng vốn luôn phải có trách nhiệm với đồng vốn mà mình nắm giữ, sử dụng. Thứ sáu: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là loại hàng hóa đặc biệt.
Là một hàng hoá vì vốn cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hoá khác - giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời, khi sử dụng hàng hoá „„vốn‟‟ sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn trước. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau song cũng có thể tách rời nhau, vốn khi bán ra không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng và người mua vốn chỉ được quyền sử dụng vốn đó trong một thời gian nhất định [16]. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Khi đề cập tới vai trò của vốn đối với quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể thấy rằng vốn có tầm quan trọng đặc biệt. Dù doanh nghiệp thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào, với quy mô lớn hay nhỏ thì vốn kinh doanh vẫn luôn giữ vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Có thể khái quát vai trò của vốn trên các khía cạnh sau: - Vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh. 9 - Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại quy mô của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá. - Vốn kinh doanh là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh; là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế; và cũng là dầu nhờn bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả.
- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị. Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn không được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả.
Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì vốn của doanh nghiệp được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định a. Khái niệm Vốn cố định là sự biểu hiện bằng tiền các tài sản cố định của doanh nghiệp. TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, bao gồm các loại TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, đầu tư tài chính dài hạn.