Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Một số vấn đề lý luận chủ yếu về các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ, hiệu quả quy mô và mô hình nghiên cứu hiệu quả quy mô Chương 3: Thực trạng hiệu quả quy mô các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ trong ngành nông nghiệp Việt Nam Chương 4: Một số giải pháp đề xuất nâng cao hiệu quả quy mô cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ trong ngành nông nghiệp Việt Nam 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nƣớc 1. Các nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về hiệu quả quy mô không phải là đề tài mới trên thế giới. Có rất nhiều học giả nghiên cứu đề tài này với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Dƣới đây là phần trình bày về các nghiên cứu ngoài nƣớc liên quan tới hiệu quả quy mô các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ: thực trạng và giải pháp. Các nghiên cứu về thực trạng hiệu quả quy mô và giải pháp nâng cao hiệu quả quy mô trên thế giới Khi nghiên cứu về thực trạng hiệu quả quy mô, các nhà nghiên cứu cần phải sử dụng công cụ đo lƣờng để đánh giá một cách chính xác nhất. Công cụ đƣợc sử dụng để đánh giá thực trạng bao gồm hai phƣơng pháp chính là tham số và phi tham số. Hầu hết những nghiên cứu trên thế giới về phân tích, đánh giá thực trạng của hiệu quả quy mô đều sử dụng mô hình phi tham số DEA.
Từ kết quả đƣa ra, các tác giả có thể đánh giá đƣợc thực trạng về hiệu quả quy mô của các doanh nghiệp này và từ đó đƣa ra các giải pháp cho hoạt động của doanh nghiệp hoặc kiến nghị chính sách phù hợp với Chính phủ. a) Một số nghiên cứu trên thế giới đánh giá thực trạng hiệu quả quy mô cho các doanh nghiệp tư nhân Tác giả Khem R. Sharma, PingSun Leung và Halina M. Zaleski (1997) công bố nghiên cứu “Productive Efficiency of the Swine Industry in Hawaii: Stochastic Frontier vs.
Data Envelopment Analysis” (Biên độ ngẫu nhiên so với phân tích màng bao dữ liệu về hiệu quả năng suất của ngành công nghiệp nuôi heo tại Hawaii:). Các tác giả phân tích hiệu quả quy mô của 53 doanh nghiệp nuôi heo tại Hawaii, Hoa kì. Sử dụng mô hình màng bao dữ liệu DEA với 1 đầu vào và 4 đầu ra, kết quả từ mô hình cho thấy có 17 đơn vị hoạt động với hiệu quả tối ƣu và 10 đơn vị hoạt động hiệu quả theo quy mô. Nghiên cứu cũng đƣa ra khuyến nghị với hầu hết các doanh nghiệp trong nghiên cứu cần mở rộng quy mô hoạt động.
11 Mohammad Jaforullah và John L. Whiteman (1998) công bố nghiên cứu “Scale Efficiency in the New Zealand Dairy Industry: A Non-Parametric Approach” (Hiệu quả quy mô trong ngành công nghiệp sữa New Zealand: cách tiếp cận phi tham số) trên tạp chí Australian Journal of Agricultural and Resource Economics. Bài viết dùng mô hình DEA để đo lƣờng hiệu quả quy mô cho 264 doanh nghiệp thực phẩm ở New Zealand. Bài nghiên cứu dùng mô hình DEA với 3 yếu tố đầu ra (milkfat, milksolid and milkprotein products) và 7 yếu tố đầu vào (land, labour, food cattle, expenditures on animal health, feed supplements, fertilizers and capital).
Kết quả từ mô hình DEA cho thấy 141 doanh nghiệp hoạt động dƣới mức quy mô tối ƣu và 73 doanh nghiệp hoạt động trên mức quy mô tối ƣu, chỉ có 50 doanh nghiệp hoạt động ở quy mô tối ƣu nhất. Nghiên cứu này sử dụng mô hình DEA để đƣa ra kết luận về số lƣợng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và chƣa hiệu quả. Nghiên cứu này nhằm ƣớc lƣợng hiệu quả kỹ thuật và quy mô đạt đƣợc bởi các trang trại trái cây ở Ý. Kết quả cho thấy tất cả các trang trại đều hoạt động với hiệu quả kĩ thuật cao hơn hiệu quả quy mô.
Đối với hiệu quả quy mô, thì tất cả các trang trại nghiên cứu đều không hiệu quả và cần tăng quy mô. Mục tiêu nghiên cứu là để đánh giá hiệu suất tƣơng đối của mƣời bốn công ty đã niêm yết ở Malaysia. Nghiên cứu này áp dụng phƣơng pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA ), đƣa ra kết quả chỉ 1 công ty là có hiệu quả tƣơng đối trong thời kỳ điều tra (2004 – 2008) trong khi năng suất kỹ thuật chung trung bình thay đổi từ 0. Việc hoạt động kém hiệu quả là vì quy mô chứ không phải là do yếu tố công nghệ.
12 Mohammad Ishaq Javed (2011) công bố nghiên cứu “Analysis of technical and scale efficiency of smallholder farms of rice-wheat”(Phân tích hiệu quả kĩ thuật và quy mô của các trang trại nhỏ trồng lúa mì) với nội dung chính là đo lƣờng hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả quy mô của các chủ trang trại trồng lúa mỳ ở Pakistan. Bài viết sử dụng mô hình DEA đo lƣờng hiệu quả của 200 trang trại đƣợc thống kê tại bang Hafizabad và Gujranwala trong vụ mùa 2006-2007. Kết quả từ mô hình cho thấy các trang trại lớn có hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả quy mô cao hơn các trang trại nhỏ. Wanke Rua Paschoal Lemme (2012) công bố tài liệu: “Determinants of Scale Efficiency in the Brazilian Third-Party Logistics Industry from 2001 to 2009” (Các yếu tố quyết định hiệu quả quy mô trong ngành công nghiệp logistics của bên thứ ba tại Brazil từ năm 2001 đến năm 2009).
Bài viết có mục đích xác định biến ảnh hƣởng đến hiệu quả quy mô các công ty 3PLs bằng cách áp dụng DEA. Dựa trên mô hình trên bảng cân đối, dữ liệu từ các nghiên cứu thƣờng niên của Revista Tecnologistica (năm 2001-2009) đã đƣợc phân tích. Kết quả cho thấy cơ chế phối hợp trong chuỗi cung ứng, sự hỗ trợ của thông tin và đồng bộ hóa, sự ƣu tiên phân bổ hợp lý các nguồn lực (đầu vào) ảnh hƣởng lớn tới hiệu quả quy mô. Munshi Naser Ibne Afzal (2012) đăng bài viết “Evaluating the Comparative Performance of Technical and Scale Efficiencies in Knowledge-Based Economies (KBEs) in ASEAN: A Data Envelopment Analysis (DEA) Application (Ứng dụng phân tích gói dữ liệu so sánh về hiệu quả kĩ thuật và quy mô trong các nền kinh tế tri thức trong ASEAN).
Nội dung chính của nghiên cứu này là đo lƣờng hiệu quả quy mô và hiệu quả kĩ thuật của các doanh nghiệp KBEs (Knowledge-Based Economies) thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bằng mô hình DEA. Mô hình DEA cho phép đánh giá hiệu quả của các công ty, tổ chức, quốc gia, và khu vực trong việc biến đổi đầu vào thành đầu ra. Có ba kết quả có thể xảy ra: tăng hiệu quả theo quy mô (IRS), hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) và giảm hiệu quả theo quy mô (DRS). Dữ liệu trong hai năm 1995 và 2010 đƣợc thu thập từ các chỉ số Phát triển Thế giới (WDI), Niên giám cạnh tranh (WCY) và các ấn phẩm ASEAN.
Kết quả thu đƣợc: Indonesia trong chiều thu thập kiến thức, Singapore, Hàn Quốc và Thái Lan trong chiều sản xuất tri thức, Singapore trong chiều phân 13 phối kiến thức và Philippines, Hàn Quốc trong chiều sử dụng kiến thức là những nƣớc có hiệu quả năng suất cao nhất 100%. Tác giả Bassam Aldeseit (2013) công bố bài viết “Measurement of Scale Efficiency in Dairy Farms: Data Envelopment Analysis (DEA) Approach” (Phƣơng pháp tiếp cận phân tích bao dữ liệu về đo lƣờng hiệu quả quy mô trong trang trại bò sữa). Bằng cách sử dụng mô hình DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của các trang trại bò sữa. Dữ liệu thu thập từ 120 trang trại bò sữa ở Jordan, kết quả cho thấy hầu hết các trang trại đƣợc lựa chọn nghiên cứu không đƣợc hoạt động ở quy mô tối ƣu.
Các trang trại này cần tăng quy mô hoạt động để có hiệu quả tốt hơn. Nội dung chính: sự gia tăng của giá đồng đô la Mỹ so với đồng Rupi vào tháng 9 năm 2013 có ảnh hƣởng tới tất cả các ngành công nghiệp ở Indonesia, đặc biệt là doanh nghiệp đậu hũ. Tăng giá nguyên liệu thô là khó khăn lớn cho doanh nghiệp. Phân tích DEA giúp đánh giá tƣơng đối năng suất của những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).
Các mẫu nghiên cứu này là của 31 trên 66 doanh nghiệp đậu hũ vừa và nhỏ ở Salatiga. Kết quả cho thấy 4 doanh nghiệp trong số các doanh nghiệp đƣợc chọn để nghiên cứu có đƣợc hiệu quả quy mô, 8 doanh nghiệp đƣợc có hiệu quả về mặt kỹ thuật và 23 doanh nghiệp là không hiệu quả. Nhƣ vậy, để tăng năng suất của các doanh nghiệp này, cần giảm bớt yếu tố đầu vào và tối đa hoá yếu tố đầu ra. Nor Nazihah Chuweni (2016) có bài viết “Technical, allocative and scale efficiency of Malaysian reits: the preliminary finding” (Nghiên cứu sơ bộ về hiệu quả kĩ thuật, phân bổ và quy mô của các đơn vị ở Malaysia).
Bài viết cũng sử dụng mô hình DEA với mục tiêu đo lƣờng hiệu quả kĩ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả quy mô của các Quỹ đầu tƣ bất động sản Malaysia. Số liệu đƣợc chọn là năm 2013- 2014, kết quả đƣa ra là chi phí đƣợc phân bổ không hiệu quả trong cả hai năm này. Hiệu quả quy mô chỉ đạt 50% ở cả hai năm nghiên cứu. 14 b) Một số nghiên cứu trên thế giới về thực trạng hiệu quả quy mô và giải pháp nâng cao hiệu quả quy mô các ngân hàng Peiyi Yu1 (2003) có bài viết “Market Structure, Scale Efficiency and Risk as Determinants of German Banking Profitability” (Cấu trúc thị trƣờng, quy mô hiệu quả và rủi ro là những yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng Đức).
Phƣơng pháp nghiên cứu là sử dụng mô hình DEA và dữ liệu của ngân hàng Đức từ năm 1998 đến 2002. Kết quả chỉ ra rằng các ngân hàng Đức có thể gia tăng lợi nhuận của họ bằng cách tăng quy mô tài sản. Sự gia tăng lợi nhuận ngân hàng sẽ không chỉ đến từ sức mạnh độc quyền mà còn từ hiệu quả quy mô. Nghiên cứu này đƣa ra kết luận về hiệu quả quy mô và sự ảnh hƣởng của sức mạnh độc quyền đến hiệu quả quy mô của ngân hàng.
Nội dung chính của bài viết là nghiên cứu hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả quy mô cuả các ngân hàng thƣơng mại Thái Lan giai đoạn 1997 – 2006 thông qua mô hình DEA. Hiệu quả kỹ thuật trung bình tổng thể là 90,73 phần trăm. Kết quả chỉ ra rằng hiệu quả kỹ thuật trung bình lớn hơn hiệu quả quy mô trung bình cho hầu hết các năm. Điều này cũng cho thấy hiệu quả quy mô của các ngân hàng trong giai đoạn này chƣa đạt mức tối ƣu.