CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐÈ 1. Đặt vẫn đề Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, đem lại nhiều thay đổi trong môi trường sinh thái và đời sống kinh tế của con người. Mặt khác, ngành cao là một trong những ngành chủ lực của nền kinh tế quốc dân. Trước nhu cầu thế giới về mủ và gỗ cao su cho sự phát triển một nền công nghiệp hiện đại.
Ở nước ta cao su ngày càng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dan. Chính vì điều này đã đẩy ngành cao su thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Ngoài giá trị kinh tế thì cây cao su còn có giá trị xã hội cũng hết sức to lớn. Đầu tiên phải nói đến việc trồng cao su đã tạo ra một khối lượng lớn công ăn, việc làm cho người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và không ít những lao động dân tộc, họ đã gắn bó cuộc đời mình với các nông trường và các nhà máy chế biến.
Bên cạnh đó nhiều tuyến đường giao thông nông thôn đã căn bản xây dựng hoàn chỉnh, nhiều nhà máy chế biến mủ tại các vùng nguyên liệu mủ mọc lên tạo động lực và góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn” ma dang va nhà nước dang khuyến khích va tao mọi điều kiện dé thúc day ngành cao su nâng cao diện tích ngày một nhiều hơn, vì cây cao su là một cây công nghiệp dài ngày có nhiều triển vọng phát triển, nó có nhu cầu rất lớn về nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; điều kiện tự nhiên ở nước ta về đất đai, khí hậu rất phù hợp cho việc trồng cao su trên quy mô lớn. Trải qua bao nhiêu thăng trầm, ngày nay cao su càng khẳng định hơn vị thế của mình trong các hệ thống cây công nghiệp dài ngày (Tiêu, Điều, Cà phê). Ngành cao su thiên nhiên là ngành sản xuất có hiệu quả toàn diện về tài chính, xã hội, môi trường kết hợp với kinh tế quốc phòng, sẽ là ngành mũi nhọn có nhiều tiềm năng phát triển của nền công, nông nghiệp Việt Nam, vì mủ cao su được xem là nguyên liệu không thể thiếu được đối với nền công nghiệp, là một trong những nguồn nguyên liệu để xây dung nên một nền công nghiệp hiện đại. Cũng chẳng phải ngạc nhiên khi cao su thiên nhiên được mệnh danh là “vàng trắng” của nhân loại bởi giá trị mà nó mang lại ngày càng đi sâu vào đời sống con người.
Tuy nhiên giá trị kinh tế của cây cao su không dừng lại ở giá trị mủ khai thác mà còn có giá trị từ nguồn gỗ và chất đốt. Hiện nay gỗ cao su đần dần có chỗ đứng so với các loại gỗ khác, khi mà các loại gỗ quí hiếm ngày càng có nguy cơ cạn kiệt. Do đó gỗ cao su có thể làm nguyên liệu chính để tạo ra các sản phẩm chính như tủ, bàn, ghế và các vật dụng khác trong gia đình. Ngoài tác dụng trên, cây cao su còn có tác dụng phủ xanh đất trống đổi trọc, giữ nước ngay cả trên đất dốc cao, chống xói mòn, giữ được độ màu mỡ của đất, góp phần tao bau không khí mát mẻ cải tạo môi trường thiên nhiên.
Thêm vào đó, cây cao su được trồng ở vùng biên giới cũng là điều kiện thuận lợi đối với việc én định và đảm bảo an ninh quốc phòng tại địa phương. Sự cần thiết của đề tài Cây cao su được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897, từ những cây cao su thực sinh đầu tiên với năng suất sản lượng rất thấp 1.000 kg/ha/năm, với những bước phát triển thăng trầm qua nhiều giai đoạn lịch sử, cho đến năm 1997 cả nước Việt Nam đã trồng được trên 288.000 ha cao su với năng suất sản lượng chỉ đạt 1. Hiện nay, diện tích mới chỉ đạt 700.000 ha với năng suất sản lượng bình quân chỉ đạt 1.000 kg/ha mặc dù từ lúc bắt đầu nhân giống trồng cao su trên thế giới nói chung và cho ngành cao su Việt Nam nói riêng cho đến nay đã áp dụng rất nhiều các phương pháp kỹ thuật về trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến mú. Những năm gần đây, do chi phí giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp trên thị trường ngày càng tăng, trong khi đó giá nông sản phẩm đầu ra lên xuống thất thường, cụ thể như giá phân bón cộng với giá xăng dầu tăng vọt, người trồng phải tăng thêm một khoản chi phí đầu tư cho sản xuất trong khi đó cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có thời gian sinh trưởng và phát triển lâu, chu kỳ kinh đoanh dài, có nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, chịu sự thay đối rất lớn của thi trường cũng như diễn biến của thời tiết nên mang tính rủi ro cao trong đầu tư kinh doanh.
Mặt khác, đối với nước ta, ngành cao su là một trong những ngành chủ lực của nền kinh tế quốc dân, mủ cao su thiên nhiên là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng góp phan thu hồi ngoại tệ cho quốc gia, đồng thời là nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp. Vả lại, khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, ngành cao su phải đương đầu với cuộc cạnh tranh về mọi mặt, cạnh tranh không những về năng suất, mà còn chất lượng, mẫu mã, hình thức. Chính vì hoàn cảnh trên đã thúc đẩy ngành cao su phấn đấu đến năm 2010 phải đạt 1.000 ha cao su trên các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh ven biển miền Trung và một số vùng ở phía bắc. Song song việc tăng điện tích đòi hỏi ngành cao su phải đây mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào ngành, để tăng năng suất, sản lượng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao và én định.
Để đạt được mục đích đó bên cạnh các biện pháp kỹ thuật như: lai tạo giống có năng suất cao, kháng bệnh, bón phân hợp lý, chăm sóc tết vườn cây, giúp cây tăng trưởng khoẻ nâng cao năng suất vẫn chưa đủ. Vì vậy trong quá trình khai thác cần áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật khác nhằm tăng năng suất như: biện pháp gắn máng che mưa, sử dụng chất kích thích Stimulatex. nó sẽ tác động trực tiếp đến năng suất, sản lượng khai thác của vườn cây. Từ những lý do trên để nâng cao năng suất chất lượng vườn cây cao su và được sự đồng ý của Khoa Kinh Tế dưới sự hướng dẫn của cô Trang Thị Huy Nhat, tôi thực hiện đề tài “Hiệu quả kinh tế của các biện pháp kỹ thuật mới trong việc khai thác mủ trên cây cao su, tại Nông trường Cao su Suối Dây - Tân Châu — Tây Ninh”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do nhận thức về lý luận và thời gian tiếp xúc thực tiễn còn hạn hẹp, vì vậy đề tài không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Mục đích nghiên cứu Đề tài này nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của các biện pháp kỹ thuật mới trong việc khai thác mu trên cây cao su nhằm nâng cao tính hiệu quả của cây cao su ở Nông trường Cao su Suối Dây theo hướng phát triển bền vững (trên cơ sở tăng năng suất và đảm bảo chất lượng). Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1. Đối trong nghiên cứu Vườn cây cao su đang trong giai đoạn kinh doanh của các hộ hợp đồng với Nông Trường.
Phạm vi nghiên cứu a) Không gian Đề tài nghiên cứu tại Nông trường Cao su Suối Dây thuộc huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. b) Thời gian Đề tài nghiên cứu từ 09/07 đến ngày 29/10/2007. Nội dung nghiên cứu - Mô tả các giải pháp kỹ thuật - Mô tả kết quả đạt được từ việc khai thác mủ cao su. - So sánh chi phí sản xuất khi không có áp dụng các giải pháp kỹ thuật so với khi có áp dụng các giải pháp kỹ thuật mới.
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH CƠ BẢN 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Nông trường cao su Suối Dây thuộc xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Xã Suối Dây là nơi có địa hình tương đối bằng phẳng nhất so với các xã khác thuộc huyện Tân Châu với tổng diện tích tự nhiên của xã là 11.090 ha, trong đó đa số là đất trồng cây công nghiệp như cây cao su, cây điều, cây mía, cây mi, nhưng điện tích cây cao su chiếm tỉ lệ cao nhất với tổng diện tích trồng cao su là 5.618,66 ha, chiếm 50,66%, mật độ dân số 94,67 người/km” với điều kiện về vị trí địa lý trên nên địa bàn xã Suối Dây, huyện Tân Châu rất thích hợp cho việc trồng, phát triển cây cao su, với ranh giới của xã được xác định như sau: - Phía Đông giáp xã Suối Ngô.
- Phía Tây giáp thị tran Tân Châu. - Phía Nam giáp xã Tân Thành. - Phía Bắc giáp xã Tân Hiệp. Địa hình của xã tương đối bằng phẳng rất thuận lợi cho giao thông vận chuyển hàng hoá, cách thị trấn Tân Châu 3km đo đó rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế.
Nông trường Cao su Suối Dây trực thuộc Công Ty TNHH 1 thành viên Cao su 1/5 Tây Ninh, tọa lạc tại ấp 4, xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh và nằm trên tỉnh lộ 19. - Phía Đông giáp xã Suối Dây. - Phía Tây giáp sông ThaLa. - Phía Nam giáp Nông trường Cao su Thanh Niên.
5 - Phía Bắc giáp Nông trường 7. Vườn cây của Nông trường năm trên tỉnh lộ 19 cách Nông trường khoảng lkm, đây là điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc, quản lý, khai thác của Nông trường. Ngoài ra Nông trường còn có nhà máy chế biến mủ nằm ngay trên tỉnh lộ cách Nông trường 200m về phía Đông, cách Công ty TNHH 01 TV Cao su 1/5 Tay Ninh khoảng 30 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 130 km về phía Nam. Với vị trí địa lý khá thuận lợi nên Nông trường đã rút ngắn được thời gian và chỉ phí vận chuyển.
Khí hậu - thời tiết Nông trường Cao su Suối Dây thuộc xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh nên mang khí hậu miền Đông Nam Bộ, vùng nhiệt đới gió mùa nóng 4m quanh năm, phân thành 02 mùa rõ rệt. - Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11: hơn 90 % lượng mưa tập trung vào mùa này. Trong mùa mưa có một khoảng thời gian bị hạn, vị trí, thời điểm này thay đổi từng năm. - Mùa nắng từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau.