ĐẶT VẤN ĐỀ Lao là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân HIV [30] và bệnh lao chiếm 40% số ca tử vong tại bệnh viện ở bệnh nhân HIV nhưng không được chẩn đoán trước khi tử vong [14], [21]. Tại Việt Nam, trong năm 2022, số ca mắc lao mới trong số những bệnh nhân HIV là 4,300 người (tương đương tỷ lệ 11.0/100,000 dân) trong khi số ca tử vong ở những bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV là 2,600 người (tương đương tỷ lệ 3. Để sàng lọc dự phòng và chẩn đoán lao, trên lâm sàng người ta có thể sử dụng các phương pháp X-quang ngực, soi đờm, cấy đờm đối với lao phổi và chẩn đoán hình ảnh, nội soi, sinh thiết mô, chọc dò tuỷ sống đối với lao ngoài phổi, ngoài ra, phương pháp xét nghiệm sinh học phân tử có thể sử dụng để chẩn đoán cả hai loại lao trên. Các phương pháp này tuy được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn bộc lộ nhiều nhược điểm, như mẫu đờm phải có đủ chất lượng và thể tích để đạt được kết quả chính xác hay đòi hỏi phòng xét nghiệm và nhân lực thực hiện xét nghiệm phải đạt tiêu chuẩn.
Điều này gây khó khăn với những bệnh nhân HIV tiến triển vì họ thường khó khạc đờm và có nguy cơ cao mắc lao ngoài phổi [20]. Lateral-flow urine lipoarabinomannan (LF-LAM) là một phương pháp chẩn đoán lao mới, mẫu bệnh phẩm là nước tiểu, chi phí thấp ($4.5), có kết quả sau 30 phút và có thể triển khai như một công cụ xét nghiệm tại chỗ (point of care) [31]. Việc sử dụng mẫu bệnh phẩm là nước tiểu có lợi trong việc chẩn đoán lao ở những bệnh nhân HIV nặng mà không thể lấy được đờm [39]. Tuy vậy, độ nhạy của phương pháp này thấp với những bệnh nhân âm tính với HIV và với những bệnh nhân dương tính HIV, nó cũng phụ thuộc vào số lượng tế bào CD4+.
Với những bệnh nhân có số tượng CD4+ dưới 200 tế bào/μl, độ nhạy của phương pháp là 39-67% nhưng độ đặc hiệu lại cho kết quả cao, trên 95% trong đa số các nghiên cứu [32]. Mặt khác, một số nghiên cứu chứng minh việc kết hợp phương pháp này và các phương pháp khác hiện đang thực hiện có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện độ nhạy, độ đặc hiệu của kết quả xét nghiệm [8], [23]. WHO lần đầu tiên ban hành hướng dẫn sử dụng LF-LAM như một phương pháp hỗ trợ chẩn đoán lao ở những bệnh nhân là người lớn, dương tính với HIV có triệu chứng của lao, có số lượng tế bào CD4+ nhỏ hơn hoặc bằng 100 tế bào/μL hoặc trong tình trạng nặng vào năm 2015 [5]. Tại Việt Nam, Quyết định số 162/QĐ-BYT ngày 19/01/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh Lao” cũng đã ra hướng dẫn tương tự đối tất cả bệnh nhân HIV nội trú và bệnh nhân HIV ngoại trú trong tình trạng nặng [2].
Khi kết hợp LF-LAM với các phương pháp hiện có để chẩn đoán lao trên bệnh nhân HIV, chi phí để chẩn đoán sẽ tăng lên. Liệu rằng chi phí tăng thêm này có đem lại hiệu quả về lâm sàng và/hoặc kinh tế so với các phác đồ hiện nay hay không. Tổng quan 1 hệ thống này được thực hiện để tổng hợp các bằng chứng về kinh tế y tế của các phác đồ kết hợp LF-LAM với các phương pháp chẩn đoán khác trong sàng lọc lao trên bệnh nhân HIV nhằm cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan quản lý và các nhà hoạch định trong việc ra quyết định trong việc sử dụng LF-LAM tại Việt Nam. Tính đến hiện nay, chưa có nghiên cứu tổng quan hệ thống về hiệu lực, hiệu quả nhưng đã có một nghiên cứu tổng quan hệ thống về chi phí - hiệu quả của phác đồ kết hợp LF-LAM với các phương pháp khác để chẩn đoán lao trên bệnh nhân HIV được báo cáo [65].
Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận rằng việc bao gồm các chi phí liên quan đến ART và chăm sóc HIV đã dẫn đến ICERs cao hơn do chi phí chẩn đoán lao chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng chi phí tăng thêm khi tính đến cả phí chăm sóc HIV. Các mô hình cho thấy mức đạt chi phí - hiệu quả của LF-LAM ổn định qua nhiều phân tích độ nhạy, các biến đổi trong các tham số quan trọng và qua các bối cảnh và kịch bản quốc gia khác nhau. Các yếu tố chính có khả năng ảnh hưởng đến chi phí- hiệu quả bao gồm: tỷ lệ hiện mắc lao, đối tượng mục tiêu, độ đặc hiệu của LF-LAM, chi phí điều trị lao và HIV, tuổi thọ sau khi sống sót sau lao, và thời gian theo dõi. Trong bối cảnh này, chúng tôi thực hiện đề tài “Tổng quan hệ thống về hiệu lực, hiệu quả và chi phí - hiệu quả khi kết hợp LF-LAM với các phương pháp chẩn đoán khác trong sàng lọc lao trên bệnh nhân HIV” với 2 mục tiêu chính: • Mục tiêu số 1: Tổng quan hệ thống các nghiên cứu về hiệu lực, hiệu quả khi kết hợp LF-LAM với các phương pháp chẩn đoán khác trong sàng lọc lao trên bệnh nhân HIV.
• Mục tiêu số 2: Tổng quan hệ thống các nghiên cứu về chi phí - hiệu quả khi kết hợp LF-LAM với các phương pháp chẩn đoán khác trong sàng lọc lao trên bệnh nhân HIV. Tổng quan về bệnh lao và bệnh lao ở người nhiễm HIV. Một số khái niệm liên quan đến bệnh lao ở người nhiễm HIV • Bệnh lao (lao hoạt động) là một bệnh lây nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium Tuberculosis - MTB) gây nên. Bệnh lao có thể gây tổn thương ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến (chiếm 80-85%), nguồn lây chính cho người xung quanh.
Bệnh lao lây qua đường không khí do hít phải các hạt bụi nhỏ có chứa vi khuẩn lao được sinh ra khi người mắc lao phổi trong giai đoạn tiến triển ho, khạc, hắt hơi. Bệnh lao có thể gây tử vong, nhưng có thể điều trị khỏi và dự phòng [2]. • Người nghi mắc bệnh lao là người có triệu chứng lâm sàng nghi lao hoặc có hình ảnh bất thường nghi lao trên phim chụp X-quang hoặc các phương pháp chẩn đoán hình khác [2]. • Người mắc bệnh lao là người bệnh có tình trạng bệnh lý do vi khuẩn lao gây ra, biểu hiện các triệu chứng của bệnh lao, chẩn đoán dựa trên tìm thấy vi khuẩn lao bằng các kỹ thuật vi sinh hoặc có bằng chứng mô bệnh học của tổn thương do lao hoặc chẩn đoán dựa vào bằng chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng khác (không hoặc chưa tìm thấy bằng chứng vi khuẩn và mô bệnh học) [2].
• Độ nhạy của một xét nghiệm là tỷ lệ những trường hợp thực sự có bệnh và có kết quả xét nghiệm dương tính trong toàn bộ các trường hợp có bệnh. Cho biết khả năng xảy ra (phát hiện) trong những ca nhiễm khuẩn đã được xác định. Công thức để tính độ nhạy như sau: số trường hợp dương tính thật Độ nhạy= số trường hợp dương tính thật + số trường hợp âm tính giả [6], [35]. • Độ đặc hiệu của một xét nghiệm là tỷ lệ những trường hợp thực sự không có bệnh và có kết quả xét nghiệm âm tính trong toàn bộ các trường hợp không bị bệnh.
Cho biết khả năng người không nhiễm là không bị nhiễm khuẩn thực sự. Độ đặc hiệu được tính theo công thức sau: 𝑆ố 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 ℎợ𝑝 â𝑚 𝑡í𝑛ℎ 𝑡ℎậ𝑡 Độ đặc hiệu= [6], [35]. 𝑠ố 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 ℎợ𝑝 â𝑚 𝑡í𝑛ℎ 𝑡ℎậ𝑡 + 𝑠ố 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 ℎợ𝑝 𝑑ươ𝑛𝑔 𝑡í𝑛ℎ 𝑔𝑖ả • Giá trị dự đoán dương tính (positive predictive value - PPV) là xác suất có bệnh của một bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính, trong khi giá trị dự đoán âm tính (negative predictive value – NPV) là xác suất một người không có bệnh khi có kết quả xét nghiệm âm tính. Giá trị dự đoán phụ thuộc vào độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm và quan trọng nhất là tỷ lệ hiện mắc của bệnh trong quần thể được xét nghiệm.
Các giá trị dự đoán được tính theo công thức sau: số trường hợp dương tính thật PPV= số trường hợp dương tính thật + số trường hợp dương tính giả 3 số trường hợp âm tính thật NPV= số trường hợp âm tính thật + số trường hợp âm tính giả [7], [35]. Một số cách phân loại bệnh lao 1. Theo vị trí giải phẫu: • Lao phổi: Bệnh lao có tổn thương ở nhu mô phổi hoặc phế quản, bao gồm cả các trường hợp lao hạch lồng ngực (trung thất và/hoặc rốn phổi) nhưng không có bất thường về X-quang ở phổi. Trường hợp tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi.
Lao kê tại phổi được coi là lao phổi [2]. • Lao ngoài phổi: Bệnh lao có tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi, như: màng phổi, hạch ngoại vi, ổ bụng, đường sinh dục tiết niệu, da, xương khớp, màng não, màng tim [2]. Theo tình trạng nhiễm HIV: • Người bệnh lao HIV dương tính: người bệnh được chẩn đoán lao có bằng chứng vi khuẩn hoặc bằng chứng mô bệnh học hoặc dựa vào lâm sàng và có kết quả xét nghiệm HIV dương tính tại thời điểm chẩn đoán lao hoặc có bằng chứng ghi nhận đang tham gia vào chương trình chăm sóc, điều trị HIV/AIDS [2]. • Người bệnh lao HIV âm tính: người bệnh chẩn đoán lao có bằng chứng vi khuẩn hoặc bằng chứng mô bệnh học hoặc dựa vào lâm sàng và có kết quả xét nghiệm HIV âm tính tại thời điểm chẩn đoán lao.
Bất cứ người bệnh nào lúc đầu tình trạng HIV âm tính nhưng sau chuyển sang HIV dương tính thì cần được phân loại lại [2]. • Người bệnh lao không rõ tình trạng HIV: người bệnh chẩn đoán lao có bằng chứng vi khuẩn hoặc bằng chứng mô bệnh học hoặc dựa vào lâm sàng và không có kết quả xét nghiệm HIV hoặc không có bằng chứng ghi nhận đang tham gia vào chương trình chăm sóc, điều trị HIV/AIDS. Nếu tình trạng nhiễm HIV của người bệnh sau đó được xác định lại thì người bệnh cần được phân loại lại [2]. Theo tính nhạy cảm và kháng thuốc của vi khuẩn lao • Lao nhạy cảm thuốc: người bệnh được chẩn đoán lao có bằng chứng vi khuẩn hoặc lâm sàng nhưng không có bằng chứng gây ra bởi chủng vi khuẩn lao kháng thuốc [2].
• Lao kháng thuốc: bệnh lao được gây ra bởi chủng vi khuẩn lao kháng với bất cứ thuốc chống lao nào [2]. Dịch tễ bệnh lao ở người nhiễm HIV 1.