Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Banaszak and Volker Beckmann (2009) cũng đã minh chứng rằng, năng lực lãnh dao của nhà quan trị có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của tô chức. Nhà quản trị cần có năng lực lãnh đạo nhằm tạo động lực cho nhân viên dé họ hành động hướng tới mục tiêu chung.
Do vậy, qua nghiên cứu trường hợp các nhóm sản xuất ở Ba Lan, tác gia đã đề xuất những phương pháp mới dé quản lý đổi mới HTX trong thị trường nông nghiệp. Trong nghiên cứu về phân tích sự thành công và yếu tố thất bại của HTXNN ở Bắc Trung Kenya cũng đã chứng minh rằng các HTX có nhân viên và Ban quản ly có trình độ cao hơn sẽ thành công hơn các HTX khác (Nyoro and Ngugi, 2007). Trong nghiên cứu của Sanjib Bhuyan (2009) về sự tham gia của người dân chăn nuôi bò sữa trong HTX ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, tác giả đã khẳng định rằng yếu tố quản lý tài chính cho thành viên tác động mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của HTX. Nguồn vốn là yếu tố quan trọng giúp HTXNN hoạt động hiệu quả (Nguyễn Thị Ngọc Nhị, 2011)., (2012), nghiên cứu về “Kinh tế nông thôn của Trung Quốc sau gia nhập WTO: Vấn đề và chiến lược” đã chỉ ra sự cần thiết về vai trò của chính quyền trong việc cung cấp tài chính cho khu vực nông thôn và HTXNN, và các chính sách hỗ trợ cho đối tượng này.
Chính phủ sẽ nâng cao quá trình làm việc của cộng đồng nông thôn và tạo ra những kết nối tới thị trường cho quá trình sản xuất của người dân và HTX. Bên cạnh đó, các HTXNN phải đối thoại với Chính phủ về chính sách, Daman Prakash (2000) khi nghiên cứu về “Phát triển hợp tác xã nông nghiệp - Kinh nghiệm của Nhật Bản với các nước đang phát triển” đã chỉ ra rằng: Trong giai đoạn đầu phát triên HTXNN, Chính phủ cần có chính sách về vốn, chính sách công nghệ cho các HTX, ngược lại các HTXNN cũng phải trao đổi, đề xuất các chính sách cho Chính phủ, dé từ đó Chính phủ ban hành những chính sách dem lại hiệu quả cao nhất cho HTX hoạt động. Nghiên cứu của Komada (2007) về “Phân tích các hoạt động HTX cà phê ở Ethiopia” cũng là một thí dụ. Trong thị trường cà phê, HTX đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện gia cà phê của thành viên HTX và người dân.
Khi HTX có khả năng nối kết thị trường, nắm được tình hình thị trường, dự bao về giá, sé luong va chất lượng sản phẩm, hop đồng bao tiêu sản phẩm thi cà phê của nông dân bán được giá cao hơn. Tương tự, Onumah et al,. (2007) khi nghiên cứu về “Trao quyền cho nông hộ nhỏ ở các thị trường” cũng cho thấy, HTX giúp người dân tăng cường khả năng thương lượng với các công ty, doanh nghiệp vì tất cả họ đều "có cùng một tiếng nói chung", và quy mô lớn, đa dạng sản phâm sẽ giúp HTX có sức mạnh đàm phán với đối tác. Mặt khác, khi người dân chịu hợp tac, đứng về cùng HTX, thì họ sẽ tăng quy mô sản xuất, từ đó có khả năng thương lượng trên thị trường tốt hơn, thu nhập từ đó cũng cao hơn.
Tóm lại, bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, các nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động của HTX, cũng như vai trò của thành viên tham gia HTX trong việc góp phần làm nên sự thành công của HTX. Đề tài kế thừa, tông hợp các kết quả, làm nền tảng để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển và hoạt động của HTXNN tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Tài liệu trong nước Chu Tiến Quang (2012) khi nghiên cứu vai trò của của HTX ở Việt Nam đối với thành viên đã chỉ ra rằng mỗi hoạt động dịch vụ phục vụ thành viên của HTX chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau, nảy sinh từ bên trong (nhân tố nội sinh) và từ bên ngoài HTX (nhân tố ngoại sinh). Từ đó, tác giả đã phân tích cụ thể các nhân tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng tới kết quả hoạt động từng dịch vụ của các loại hình HTX khác nhau.
Mac dù đã chỉ ra các yếu tố ngoại sinh và nội sinh tác động đến từng hoạt động dịch vụ của HTX là khác nhau, tác giả lại chưa đưa ra các chỉ tiêu cụ thé dé đánh giá tác động của các yêu tô này đến hoạt động của HTX. Phan Văn Hiếu (2011) cũng chỉ ra sự phát triển HTX chịu tác động của các yếu tố bên trong và các yếu tô bên ngoài HTX. Các yếu tố bên trong gồm: nguồn nhân lực; thành viên; nguồn vật lực; nguồn lực tài chính; tổ chức và quản lý; chiến lược kinh doanh; hiệu quả kinh doanh; sở hữu và phân phối lãi trong HTX. Các yếu tố bên ngoài gồm: trình độ phân công lao động và kinh tế thị trường; thị trường; môi trường chính tri; môi trường xã hội; môi trường thông tin cua HTX; những yếu tố thuộc về điều kiện lịch sử và mang tính ngẫu nhiên.
Tương tự, Chu Tiến Quang (2012), khi nghiên cứu về sự thành công của một số HTXNN điền hình cũng đã chỉ rõ về vai trò của Ban giám đốc HTXNN. Trong đó nêu rõ nêu Ban giám đốc có đủ năng lực quản trị, năng lực kinh doanh, thì sẽ có khả năng dẫn dắt HTXNN, huy động vốn, kết nối các thành viên, kết nối các bên liên quan. Đồng thời Ban giám đốc HTX cần có các kỹ năng về lập kế hoạch tác nghiệp, lập kế hoạch tổ chức dịch vụ, yếu tố đầu vào cho thành viên HTX để từ đó sản xuất và cung cấp đúng chủng loại, khối lượng và chất lượng hàng hóa theo nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng đáng lo ngại là hầu hết các HTXNN có đội ngũ lãnh đạo, quan lý yếu kém, trình độ thấp, vì lẽ đó nhiều HTXNN hoạt động chưa thành công.
Mai Anh Bảo (2015) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTXNN ở Đồng bằng sông Hồng, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố gồm: Năng lực lãnh đạo của Ban giám đốc, cam kết cảm xúc, cam kết duy trì và tham gia quản tri HTX của thành viên HTX. Phạm Thi Cần và ctg., (2003), trong nghiên cứu “Những van dé lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta”, cũng đã nhắn mạnh đến tầm quan trọng của việc bồi dưỡng năng lực cho Ban giám đốc HTXNN, để Ban giám đốc có khả năng lập kế hoạch và xử lý các tình huống khi thực hiện kế hoạch. Năng lực của Ban giám đốc có quan hệ đến hiệu quả của HTXNN trong thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp ở ĐBSCL (Dương Ngọc Thanh, 2018). Ngoài ra, tác giả cũng khẳng định rằng, khả năng đa dịch vụ của HTX sẽ hiệu quả hơn HTX hoạt động đơn dịch vụ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, năng lực nối kết giúp vận hành, phát triển HTXNN, nhất là trong thời đại hiện nay, khả năng nối kết sẽ dem lại nhiều lợi ích thiết thực. Một số nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như sau: Nghiên cứu khả năng nối kết với thị trường, liên kết với ngân hàng của HTXNN, các nhà khoa học đã chứng minh rằng, nhiều HTXNN có khả năng nối kết tốt, giúp cho nông hộ tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ đầu vào sản xuất và thị trường đầu ra sản phẩm, tận dụng lao động nhàn rỗi, giúp thành viên tiếp cận tốt hơn với vốn. Hiện có khoảng 10,5 triệu người hoạt động trong khu vực HTX và lao động tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm đến 96% tổng số lao động (Nguyễn Minh Tú, 2008). Bên cạnh đó việc góp phần đảm bảo thu nhập, an ninh lương thực cho nông hộ, HTXNN còn đảm bảo an ninh lương thực va tăng trưởng GDP của đất nước.
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Hanh (2014) cũng cho thấy, với khả năng nồi kết tốt, nhiều HTXNN đảm nhận từ khâu phục vụ sản xuất đến khâu tiêu thụ nông sản. Với sự hỗ trợ của HTXNN, sản xuất nông nghiệp có nhiều thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, chất lượng hơn, nông dân mua nguyên liệu đầu vào với giá rẻ hơn, bán ra sản phẩm có giá thành cao hơn. Bên cạnh đó, HTX còn chăm lo cho đời song văn hóa, tinh thần, an sinh xã hội của nông dan và thúc đây sự phát triển của cộng đồng nông thôn. Hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả thường là các HTX thực hiện tốt chức năng nối kết thành viên với các chương trình hỗ trợ của nhà nước, nối kết với các công ty, các đơn vị chức năng có liên quan đề giúp thành viên có được lợi ích cao nhất khi tham gia HTX, từ đó tạo niềm tin cho người dân (Phan Văn Hiếu, 201 1).
Xây dựng kế hoạch SXKD là yếu tố quan trọng góp phan nâng cao hiệu qua hoạt động của HTXNN (Duong Ngoc Thanh, 2018). HTXNN có vai trò là cầu nối cho thành viên, bà con nông dân tiếp cận với các chủ trương, đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng và nhà nước ta, đồng thời cũng là nơi tô chức, giúp đỡ, tư vân, hướng dan và cung cap các dich vu ho trợ sản xuât như: Thủy lợi, giông, phan bón, thuốc BVTV, thú y, bao tiêu sản phẩm cho thành viên (Phan Vĩnh Điển, 201 1). Để HTXNN phát triển bền vững và ôn định nhà nước cần đầu tư mở rộng thị trường và da dạng hóa sản phẩm (Nguyễn Thị Ngọc Nhi, 2011). Trần Văn Thiện (2009), trong nghiên cứu về tín dụng ngân hàng góp phần phát triển kinh tế HTX ở Việt Nam cũng chỉ ra rằng, nguồn vốn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tín dụng và các tô chức kinh tế HTX.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên (2010) cũng chỉ ra rằng nhận thức của thành viên về việc góp vốn có mối quan hệ với hiệu qua hoạt động của HTX, và khi nông dân thay được lợi ích thi họ tự nguyện đóng góp và tham gia chia sẻ công việc dé cùng HTX phát triển. Rõ ràng, dé giúp HTX hoạt động hiệu quả thì van dé huy động nguồn vốn có mối quan hệ mật thiết. Nghĩa là khi HTX được huy động nguồn vốn tốt thì hoạt động hiệu quả hon so với HTX có nguồn vốn ít hoặc không huy động được nguồn vốn (Chu Tiến Quang, 2012; Dương Ngọc Thành, 2018). Đồng thời khi đã có nguồn vốn tốt thì cần quản lý tốt nguồn vốn đó.