ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đường sinh sản (RTIs) được xem là một đại dịch ―thầm lặng‖ do nhiều trường hợp nhiễm khuẩn không triệu chứng. Đây là nguồn truyền bệnh nguy hiểm cho cộng đồng, đồng thời chính người mắc cũng bị những biến chứng do không được điều trị kịp thời. Đặc biệt, nếu mắc RTIs ở lứa tuổi vị thành niên (VTN) mà không được điều trị kịp thời, những biến chứng của bệnh sẽ xuất hiện khi các em trưởng thành, gây hậu quả nghiêm trọng cả về thể chất, tinh thần và xã hội của VTN. Tuổi VTN là một lứa tuổi đặc biệt trong cuộc đời mỗi người.
Đây là giai đoạn chuyển tiếp t tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành. lứa tuổi này cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh về mặt tâm sinh lý nên rất dễ có những kiến thức lệch lạc, thái độ tiêu cực và hành vi nguy cơ đối với sức khỏe. RTIs càng trở thành mối đe dọa lớn đối với sức khỏe sinh sản (SKSS) khi VTN thiếu kiến thức về phòng chống RTIs, có thái độ và thực hành phòng chống RTIs kém. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyền cho thấy có 68,1% học sinh có kiến thức chưa đạt về triệu chứng các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục (STIs) [24].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Thương và cộng sự chỉ ra có 68,5% học sinh nữ thực hành vệ sinh bộ phận sinh dục (BPSD) không đúng cách [18]. Ngoài ra, các nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy đa số nữ sinh viên thực hành vệ sinh kinh nguyệt (VSKN) không đạt yêu cầu [31], [36]. Để góp phần cải thiện KAP phòng chống RTIs của VTN, các can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) đã được áp dụng ở nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Các can thiệp đều được đánh giá hiệu quả đối với thay đổi KAP phòng chống RTIs với những tiêu chuẩn đánh giá khác nhau [16], [21], [27], [56], [85], [79], [92].
Tuy nhiên, cho đến nay rất ít nghiên cứu tiến hành phân tích chi phí - hiệu quả của các can thiệp mặc dù có một nhu cầu rất lớn về loại thông tin này. Những thông tin về chi phí, chi phí - hiệu quả 2 có vai trò rất quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách, những nhà xây dựng chương trình có thể lựa chọn giải pháp can thiệp tối ưu nhất. Kim Bảng là một trong 6 huyện và thành phố của tỉnh Hà Nam. Huyện có tiềm năng phát triển kinh tế cao với vị trí địa lý và điều kiện khí hậu thuỷ văn thuận lợi, nguồn nhân lực dồi dào và hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển.
Một số năm trở lại đây, công tác y tế của huyện đạt được những bước tiến trên nhiều lĩnh vực như phòng bệnh, khám chữa bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm và đào tạo cán bộ. Tại huyện, các chương trình TT - GDSK về SKSS có bao hàm nội dung phòng chống RTIs được tổ chức nhỏ lẻ tại một số trường học trên địa bàn huyện và chưa được báo cáo đầy đủ. Xuất phát t thực tế đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản ở học sinh tuổi vị thành niên tại huyện Kim Bảng, Hà Nam, 2015 - 2016‖. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu bao gồm 3 mục tiêu: 1- Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản ở học sinh tuổi vị thành niên và một số yếu tố liên quan tại 6 trường trung học thuộc huyện Kim Bảng, Hà Nam năm 2015.
2- Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông - giáo dục sức khỏe trong việc thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống nhiễm khuẩn sinh sản ở học sinh tuổi vị thành niên tại địa bàn nghiên cứu. 3- Phân tích chi phí và chi phí - hiệu quả của can thiệp được áp dụng tại địa bàn nghiên cứu. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1.
Nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục Theo Hướng dẫn Quốc Gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS, RTIs gồm ba loại [7]: 1) Các STIs như nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV. (2) Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm hộ - âm đạo do nấm men. (3) Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn. RTIs là một thuật ngữ rộng bao gồm STIs và các RTIs khác không lây truyền qua đường tình dục.
STIs là những nhiễm khuẩn hoặc bệnh lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục, bao gồm quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và miệng. Một số STIs cũng có thể lây lan qua các phương tiện không liên quan đến tình dục như máu hoặc các sản phẩm t máu. Nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục - bao gồm chlamydia, lậu, chủ yếu là viêm gan B, HIV và giang mai - cũng có thể truyền t mẹ sang con trong khi mang thai và sinh đẻ. Đa số các trường hợp STIs đều để lại hậu quả về mặt sức khỏe nặng nề hơn so với RTIs.
Các RTIs gây ra bởi các vi sinh vật thường có mặt tại đường sinh sản hoặc do các vi sinh vật t bên ngoài vào thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế. Không phải tất cả các STIs đều là các RTIs và cũng không phải tất cả các RTIs đều có thể lây truyền qua đường tình dục. STIs nói đến cách thức lây truyền trong khi đó RTIs lại đề cập đến vị trí nơi các nhiễm khuẩn tiến triển [7]. Thuật ngữ STIs được dùng t đầu những năm 90 của thế kỷ XX để chỉ sự nhiễm trùng do vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng, 5 chủ yếu lây qua quan hệ tình dục không an toàn, không được bảo vệ.
Các nhiễm trùng này có thể có triệu chứng hay không có triệu chứng lâm sàng, có thể không gây thương tổn các cơ quan. Vị thành niên VTN là giai đoạn chuyển tiếp t trẻ em thành người trưởng thành. VTN có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như thích thử nghiệm, thích khám phá năng lực bản thân, năng động, sáng tạo [7]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là các cá nhân trong độ tuổi 10 -19 tuổi.
VTN được chia làm 3 nhóm tuổi: - VTN sớm: 10 - 14 tuổi. - VTN trung bình: 15 - 17 tuổi. - VTN muộn: 18 - 19 tuổi. Chi phí Chi phí hay còn gọi là giá thành của một loại hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động nào đó là giá trị (thường quy ra tiền) của tất cả các nguồn lực cần thiết tạo ra của một loại hàng hóa, dịch vụ hay hoạt động đó [4].
Chi phí của người cung cấp dịch vụ y tế bao gồm các chi phí để tạo ra dịch vụ y tế đó như lương nhân viên, vật tư, hóa chất, máy móc, thiết bị, tài liệu truyền thông… Chi phí của người sử dụng các dịch vụ y tế là chi phí mà người thụ hưởng dịch vụ y tế và gia đình họ phải trả trong quá trình tham gia vào dịch vụ y tế và chi phí cho thu nhập mất đi của họ do tham vào dịch vụ y tế. Chi phí của người sử dụng dịch vụ bao gồm [4]: - Chi phí trực tiếp: Chi phí y tế (Khám, xét nghiệm, thuốc điều trị…), chi phí ngoài y tế (đi lại, ăn ở, bồi dưỡng…). - Chi phí gián tiếp: Chi phí gián tiếp do người sử dụng dịch vụ gánh chịu được tính bằng thu nhập mất đi của họ khi họ dành thời gian tham gia dịch vụ. QALY QALY (Quality- Adjusted life years) được tạm dịch là ―Năm sống hiệu chỉnh theo chất lượng cuộc sống‖.
QALY- năm sống hiệu chỉnh theo chất 6 lượng cuộc sống là chỉ số kết hợp được đồng thời ―tử vong‖ và ―tàn tật‖ để phản ánh hiệu quả của các can thiệp chăm sóc sức khoẻ [4]. Để tính được QALY của một tình trạng sức khoẻ, điều quan trọng nhất là xác định được trọng số chất lượng cuộc sống của tình trạng đó (được gọi là trọng số chất lượng cuộc sống). Trọng số này dao động trong khoảng t 0 đến 1, với 0 tương ứng với tử vong hoặc tình trạng sức khoẻ tồi tệ nhất và 1 tương ứng với chất lượng cuộc sống khi hoàn toàn khoẻ mạnh (tình trạng sức khoẻ tối ưu). Phân tích chi phí - hiệu quả Phân tích chi phí - hiệu quả là phương pháp so sánh các chương trình can thiệp với nhau cả về chi phí và hiệu quả của chúng.
Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả được vận dụng rất phổ biến trong công tác y tế, đặc biệt là đối với các chương trình y tế. Theo lý thuyết, một phân tích chi phí - hiệu quả có năm bước [4]: Xác định mục tiêu của chương trình; xác định chi phí của t ng phương án; xác định và đo lường hiệu quả của t ng phương án; xác định chi phí - hiệu quả của t ng phương án và so sánh kết quả này giữa các phương án; phân tích độ nhạy 1. Dịch tễ học và lâm sàng các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản 1. Dịch tễ học Tác nhân gây bệnh Có nhiều loại tác nhân gây RTIs bao gồm vi khuẩn, virus và ký sinh trùng.
Cho đến nay, người ta đã biết có tới trên 20 tác nhân gây RTIs [7]. Một số tác nhân chủ yếu gây RTIs bao gồm: Nhóm vi khuẩn: Neisseria gonorhoeae (Lậu cầu khuẩn); Chlamydia trachomatis; Treponema pallidum (Xoắn khuẩn giang mai); Haemophilus ducrey (Trực khuẩn hạ cam); Gardnerella vaginalis ; Streptococcus agalactiae. Nhóm virus: Herpes virus; Virus sùi mào gà; HIV virus; Cytomegalo virus. Nhóm ký sinh trùng: Trichomonas vaginalis; Nấm Candida spp.
Nguồn truyền nhiễm: Người là nguồn truyền nhiễm chủ yếu và là ổ chứa mầm bệnh của hầu hết các RTIs, gồm người bệnh và người mang mầm 7 bệnh. Cơ chế lây truyền: Quá trình truyền nhiễm gồm 3 pha là pha thải, pha ngoại môi và pha xâm nhập [6]: - Pha thải: Mầm bệnh thải ra t người dưới dạng dịch tiết, tinh dịch, máu, huyết tương, vảy khô của các tổ chức viêm ở da, niêm mạc… - Pha ngoại môi: Tác nhân sau khi được thải ra t người, chúng tiếp tục sống ở môi trường ngoại môi như đồ dùng cá nhân, dụng cụ y tế, đất, nước, rác thải… Với các STIs thường không có pha này mà tác nhân đi thẳng t người này qua người khá qua QHTD không được bảo vệ.