ĐẶT VẤN ĐỀ Bàng quang tăng hoạt là một hội chứng phổ biến, có xu hướng ngày càng gia tăng trong bối cảnh già hóa dân số và ảnh hưởng của lối sống hiện đại. Vào năm 2018, ước tính có khoảng 546 triệu người trên thế giới đang sống chung với bàng quang tăng hoạt [43]. Tại Việt Nam, mặc dù chưa có số liệu chính thức nhưng với tỷ lệ mắc của thế giới, đang có khoảng từ 10 – 20% dân số Việt Nam chung sống với bàng quang tăng hoạt [4]. Hội chứng này không chỉ làm suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) [21], [72] mà còn có ảnh hưởng tiêu cực đến mọi hoạt động thường ngày của bệnh nhân bao gồm chất lượng giấc ngủ, hoạt động tình dục, sức khỏe tinh thần, đời sống gia đình và hoạt động xã hội [8], [20], [54].
Bệnh nhân mắc bàng quang tăng hoạt phải đối mặt với nguy cơ phải thay đổi việc làm, nghỉ hưu sớm hoặc thậm chí bị sa thải vì các triệu chứng của nó [72]. Hơn thế nữa, bàng quang tăng hoạt còn gây ra gánh nặng kinh tế to lớn cho bệnh nhân nói riêng và toàn xã hội nói chung. Theo nghiên cứu của Durden và cộng sự tại Hoa Kỳ vào năm 2018, chi phí trực tiếp y tế hàng năm trên mỗi bệnh nhân bàng quang tăng hoạt tại quốc gia này ước tính lên đến khoảng 36.000 USD/năm với mỗi bệnh nhân [27]. Ngoài ra, tại Nhật Bản, tổng gánh nặng chi phí hàng năm (bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp) của bàng quang tăng hoạt lên tới khoảng 956,2 tỷ Yên vào năm 2017 [42].
Năm 2019, Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) đã đưa ra mục tiêu điều trị chung của bàng quang tăng hoạt là kiểm soát các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bằng các biện pháp không dùng thuốc, dùng thuốc và phẫu thuật [34]. Trong đó, các biện pháp sử dụng thuốc đường uống đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và điều trị bàng quang tăng hoạt ở tất cả các hướng dẫn điều trị trên toàn thế giới [34], [29], [25]. Từ lâu, nhóm thuốc kháng muscarinic được coi là lựa chọn thuốc đường uống đầu tay trong điều trị bàng quang tăng hoạt, trong đó có thể kể đến solifenacin – một thuốc kháng muscarinic điển hình đã được chứng minh về hiệu quả, an toàn khi so sánh với các thuốc khác cùng nhóm [58] và được đưa vào Danh mục thuốc được Bảo hiểm Y tế Việt Nam chi trả từ năm 2019 [1]. Các thuốc kháng muscarinic là lựa chọn thuốc đường uống duy nhất trong điều trị bàng quang tăng hoạt cho đến năm 2012, FDA lần đầu tiên cấp phép cho một thuốc có cơ chế hoàn toàn khác biệt so với các kháng muscarinic là mirabegron – một chất chủ vận trên thụ thể β3 giao cảm [28].
Sau khi được FDA cấp phép vào năm 2012, mirabegron đã được trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ cấp phép [28] và được đưa vào trong nhiều hướng dẫn điều trị uy tín trên toàn thế giới, bao gồm AUA (Hiệp hội Tiết niệu Hoa Kỳ), NICE (Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia Anh), CUA (Hiệp hội Tiết niệu Canada,…) cho thấy mức độ hiệu quả và an toàn và vai trò trên lâm sàng của thuốc [34], [25], [19], [29]. Vì vậy, việc tổng hợp, hệ thống hóa các bằng chứng về hiệu 1 lực, an toàn và chi phí – hiệu quả của mirabegron trên thế giới là vô cùng cần thiết để bổ sung vào các hướng dẫn thực hành lâm sàng và xây dựng các chính sách y tế tại Việt Nam, hướng tới việc được thực hiện chi trả bởi Bảo hiểm Y tế tại các cơ sở y tế [1]. Xuất phát từ thực tế trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành đề tài “Tổng quan hệ thống về hiệu lực, an toàn và chi phí – hiệu quả của mirabegron trong điều trị bàng quang tăng hoạt” với mục đích xem xét, đánh giá một cách có hệ thống các nghiên cứu về hiệu lực, an toàn và chi phí – hiệu quả của mirabegron so với các liệu pháp điều trị bàng quang tăng hoạt khác. Đề tài bao gồm 2 mục tiêu cụ thể: 1.
Tổng quan hệ thống các nghiên cứu đánh giá hiệu lực, an toàn của mirabegron so với solifenacin trong điều trị bàng quang tăng hoạt. Tổng quan hệ thống các nghiên cứu đánh giá chi phí – hiệu quả của mirabegron trong điều trị bàng quang tăng hoạt. Tổng quan về bàng quang tăng hoạt 1. Định nghĩa, triệu chứng và phân loại bàng quang tăng hoạt Bàng quang tăng hoạt là một tình trạng phổ biến đặc trưng bởi một nhóm các triệu chứng ở hệ thống lưu trữ của đường tiết niệu dưới [65].
Tình trạng này được định nghĩa bởi Hiệp hội Tiêu tiểu tiện Tự chủ Quốc tế (ICS) là sự hiện diện của “tiểu gấp, thường đi kèm với gia tăng tần suất đi tiểu vào ban ngày và ban đêm, có hoặc không có kèm với tiểu không kiểm soát và không có nhiễm trùng đường tiết niệu hoặc các bệnh lý có thể phát hiện được khác” [19], [34]. Ở một số tài liệu, bàng quang tăng hoạt có thể phân loại được thành bàng quang tăng hoạt ướt (có kèm tiểu gấp không kiểm soát) và bàng quang tăng hoạt khô (không kèm tiểu gấp không kiểm soát) [50]. Định nghĩa về các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt theo ICS - 2002 được trình bày trong Bảng 1. Định nghĩa các triệu chứng của đường tiết niệu dưới cấu thành nên bàng quang tăng hoạt Triệu chứng Định nghĩa Tiểu gấp Than phiền về cảm giác muốn đi tiểu đột ngột, cấp bách và khó có thể hoãn lại.
Gia tăng tần suất đi Than phiền về việc đi tiểu xảy ra thường xuyên hơn trong giờ tiểu vào ban ngày thức giấc so với trước đây của cá nhân hoặc người chăm sóc. Tiểu đêm Số lần đi tiểu trong khoảng thời gian đi ngủ chính trong ngày. Lần đầu tiên thức dậy để đi tiểu, sau mỗi lần đi tiểu phải ngủ hoặc có ý định đi ngủ. Triệu chứng này nên được định lượng bằng nhật ký bàng quang.
Tiểu gấp không tự chủ Phàn nàn về việc mất nước tiểu không tự chủ liên quan đến tiểu gấp. Trong các triệu chứng trên, triệu chứng tiểu gấp được coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán bàng quang tăng hoạt. Bàng quang tăng hoạt được chẩn đoán khi có triệu chứng tiểu gấp kèm theo một trong các triệu chứng còn lại [4]. Dịch tễ học bàng quang tăng hoạt 1.
Trên thế giới Nghiên cứu của Irwin và cộng sự (2011) dự báo sự gia tăng tỷ lệ dân số chịu ảnh hưởng bởi bàng quang tăng hoạt ở Nam Mỹ, Châu Á và Bắc Mỹ từ 18% lên thành 22% và châu Âu tăng lên thành 4% trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2018 [43]. Nhìn chung, ước tính vào năm 2013, trên toàn cầu có khoảng 500 triệu người đang sống chung với bàng quang tăng hoạt theo định nghĩa của ICS và tăng lên thành 546 triệu người vào năm 2018 [43]. Mặc dù có rất ít ước tính cho khoảng thời gian gần đây nhưng tỷ lệ mắc bàng quang tăng hoạt trên toàn cầu rất có thể có xu hướng gia tăng do dự báo 3 trong các mô hình nghiên cứu trước đó và sự già hóa dân số trên toàn cầu trong những năm gần đây. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, hiện có rất ít dữ liệu về dịch tễ học bàng quang tăng hoạt.
Theo một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Vũ Lê Chuyên và các cộng sự vào năm 2014 , kết quả nghiên cứu trên 2093 người Việt Nam ≥18 tuổi cho thấy tỷ lệ mắc bàng quang tăng hoạt ở người lớn (≥18 tuổi) tại Việt Nam là 12,2%; tỷ lệ mắc ở nam và nữ lần lượt là 9,89% và 14,58%. Nữ có tỷ lệ mắc bàng quang tăng hoạt cao hơn nam theo phép kiểm Chi square, p = 0,001 < 0,05. Cũng theo nghiên cứu này, tại Việt Nam, độ tuổi mắc bàng quang tăng hoạt cao nhất ở nhóm 26 – 45 tuổi [4]. Gánh nặng của bàng quang tăng hoạt 1.
Gánh nặng sức khỏe do bàng quang tăng hoạt Bàng quang tăng hoạt có ảnh hưởng tiêu cực rõ ràng đến chỉ số chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân (HRQoL). Các nghiên cứu của Coyne và cộng sự (2008); Hakimi và cộng sự (2017); Johnston và cộng sự (2019) và Stewart và cộng sự (2003) cho thấy người trưởng thành mắc bàng quang tăng hoạt có điểm số trong các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống chung (VD: SF – 36 và EQ – 5D) và các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống riêng dành cho bệnh nhân mắc bàng quang tăng hoạt (VD: OAB – 5D, OAB – q,…) thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng [21], [36], [45], [72]. Hơn thế nữa, mức độ suy giảm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ nặng của triệu chứng: Nghiên cứu của Milsom và cộng sự (2012) trên 20,000 người trưởng thành trả lời phỏng vấn ở Mỹ cho thấy mức độ suy giảm điểm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) đáng kể của nhóm bị làm phiền bởi các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt so với nhóm báo cáo không/rất ít bị làm phiền [54]. Tại châu Á, hai nghiên cứu của Lee và cộng sự (2015) và Tang và cộng sự (2014) cho thấy bệnh nhân có triệu chứng tiểu gấp không tự chủ có điểm số chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) thấp hơn đáng kể so với bệnh nhân không có triệu chứng trên [47], [73].
Ngoài ra, bàng quang tăng hoạt còn có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của bệnh nhân. Nghiên cứu của Melotti và cộng sự (2018) trên 274 bệnh nhân nữ mắc bàng quang tăng hoạt cho thấy: Trầm cảm mức độ nặng và trung bình xuất hiện trên 59,8% bệnh nhân, lo âu mức độ nặng và trung bình xuất hiện trên 62,4% bệnh nhân, cả hai có liên quan mật thiết đến các triệu chứng tiểu gấp không tự chủ và tiểu đêm [53]. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đại diện trên dân số và được thực hiện trên Internet của Lee và cộng sự (2017) ở Trung Quốc Đại Lục, Đài Loan và Hàn Quốc cũng cho thấy nhóm bệnh nhân mắc bàng quang tăng hoạt có điểm số trong thang đo lo âu, trầm cảm của bệnh viện (HADS) cao hơn đáng kể so với nhóm bệnh nhân không mắc bàng quang 4 tăng hoạt [48]. Kết quả của các nghiên cứu trên phù hợp với các dữ liệu định tính khi các triệu chứng của bàng quang tăng hoạt gây ra lo âu về cuộc sống hàng ngày, nỗi sợ mất kiểm soát, cảm giác chán nản và vô vọng ở bệnh nhân [61].