CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hành vi tự sát Tự sát là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu ở nhiều lĩnh vực khác nhau như y học, xã hội học, tâm lý học… HVTS nhìn chung hướng đến việc coi cái chết như một giải pháp để chấm dứt những sự đau đớn quá sức chịu đựng về mặt tâm lý, những người có HVTS thường cảm thấy vô dụng, tuyệt vọng và muốn được giải thoát. [10] Trong lĩnh vực xã hội học, E.
Durkheim xem tự sát như là một hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, ông cho rằng tự tử là một hiện tượng xã hội có mối tương quan nghịch với mức độ gắn kết và hội nhập xã hội của các cá nhân. Durkheim xếp HVTS thành 4 loại: Tự sát ích kỷ, tự sát vị tha, tự sát phi chuẩn mực và tự sát cuồng tín. Khác với quan điểm của Tâm lý học về nguyên nhân chính dẫn đến tự tử là do các rối loạn SKTT hoặc trầm cảm, trên phương diện Xã hội học, Durkheim cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến HVTS là do sự tương tác giữa các cá nhân và xã hội. [8] Dưới góc nhìn của lý thuyết tâm động học, phần lớn các nhà lý thuyết tâm động học nổi tiếng cho ràng tự sát là một hành vi hung hăng cố hữu.
- Freud trong tác phẩm “Mourning and Melancholia” năm 1917 cho rằng HVTS xuất phát từ một sang chấn thời thơ ấu chưa được giải quyết. Ông lập luận rằng một người muốn tự sát phải có mong muốn hung hăng đối với một người nào đó trong cuộc sống của họ, coi mình là một đối tượng riêng biệt và mong muốn hành động. Quan điểm của Freud là nền móng cho các nhà lý thuyết tâm động học giải thích về HVTS. [20] - Karl Menninger trong lý thuyết của mình đưa ra ba động cơ của HVTS.
Động cơ thứ nhất là mong muốn giết người khác được nội tâm hoá thành bản ngã của bản thân. Động cơ thứ hai là mong muốn được chết như một phản ứng tội lỗi dẫn đến động cơ thứ nhất. Động cơ thứ ba là mong muốn được chết biểu hiện như 5 một dạng trầm cảm. Theo ông, để một người có thể tự sát thì phải có đủ cả ba động lực nêu trên và động cơ chính là cảm giác tội lỗi.
[20] - Các lý thuyết về tâm động học là một trong những lý thuyết đặt nền tảng cho các nghiên cứu sau này nhưng không có hoặc rất ít các kết quả thực nghiệm chứng minh. Lý thuyết sinh học về tự sát sử dụng mô hình căng thẳng và tính dễ tổn thương để giải thích về HVTS. Mô hình này đề xuất rằng một số cá nhân có khuynh hướng di truyền (hay cơ địa) đối với HVTS, các yếu tố gây căng thẳng trong cuộc sống thúc đẩy họ hành động theo khuynh hướng này. Theo các nhà nghiên cứu lý thuyết này, một ai đó cố gắng tự sát hoặc tự sát phải có cả 2 yếu tố: khuynh hướng tự sát và yếu tố gây căng thẳng.
[20] - Khuynh hướng tự sát có thể biểu hiện dưới nhiều đặc điểm tính cách như: bốc đồng, hung hăng, bi quan, tiền sử sang chấn hoặc gia đình có người tự sát. - Các yếu tố gây căng thẳng có thể thúc đẩy HVTS ở những người này bao gồm: các yếu tố gây căng thẳng giữa các cá nhân hoặc môi trường, bệnh nội khoa và tình trạng tâm thần. [20] Các nhà nghiên cứu theo lý thuyết sinh học cũng tìm thấy mối quan hệ giữa các rối loạn tâm thần với HVTS. Hawton & Van Heeringen, 2009 chỉ ra rằng 90% những người tự sát được chẩn đoán mắc rối loạn tâm thần.
- Mặc dù các nghiên cứu tâm lý học thần kinh ngày càng tìm thấy nhiều bằng chứng cho củng cố cho lý thuyết sinh học về HVTS, nhưng những khó khăn cố hữu trong quá trình nghiên cứu hoá học và sinh học não bộ khiến lý thuyết này không còn được sử dụng nhiều hiện nay. Lý thuyết tâm lý liên cá nhân về tự sát cho rằng HVTS của một cá nhân được tạo thành khi có hai thành phần: thiếu hụt cảm giác thuộc về và cảm giác nặng nề (Joiner & Van Orden, 2008). [20] Mặt khác, cá nhân đó cũng cần phải có khả năng vượt qua nỗi sợ hãi cái chết tự nhiên vốn có của con người. - Thiếu hụt cảm giác thuộc về được giải thích là cảm giác xa lạ với những người khác trong gia đình, xã hội hoặc các mối quan hệ quan trọng khác.
Cảm giác thuộc về là một yếu tố quan trọng đối với SKTT. Edwin Shneidman khẳng định rằng sự xa lánh có thể khiến một người trải qua nỗi đau không thể chịu đựng được 6 và ý định tự sát xuất hiện như một cách để chấm dứt nỗi đau (Shneidman, 1993). Ngược lại, ý tưởng/HVTS của sinh viên đại học tăng lên trong học kỳ mùa hè khi cảm giác thuộc về của sinh viên giảm xuống trong lúc họ không đến trường (Van Orden và cộng sự, 2008). Do đó, họ tin rằng cái chết sẽ giúp gia đình, bạn bè, xã hội không phải chăm sóc cho họ về thể chất, tình cảm hoặc tài chính; các thành viên trong gia đình, bạn bè, xã hội sẽ tốt hơn khi không có họ.
- Lý thuyết tâm lý liên cá nhân về tự sát là một lý thuyết phổ biến để giải thích về HVTS bởi việc nhấn mạnh vào kết nối xã hội trong khi các nghiên cứu khác tập trung vào nghiên cứu các dấu hiệu cảnh báo, các yếu tố rủi ro và các chiến lược phòng ngừa tự sát. Quá trình hình thành ý tưởng và HVTS được nghiên cứu bởi các tác giả khác nhau. Nhóm tác giả từ Trung tâm Nghiên cứu Xã hội Liên ngành (ISR) thuộc trường đại học Phenikaa đã đưa ra cơ chế xử lý thông tin Mindsponge để lý giải quá trình hình thành ý tưởng tự sát. Cách lý giải này cho rằng có một bộ lọc thông tin quy nạp, các cá nhân sẽ chọn lọc thông tin và cân nhắc sự được mất nếu tự sát trước khi ý tưởng tự sát đi sâu vào trong tâm trí của họ.
Mỗi cá nhân sẽ cân nhắc về tự sát như một sự lựa chọn giống như những sự lựa chọn khác như chia sẻ và tìm kiếm sự giúp đỡ từ bố mẹ, người thân, nhờ tư vấn tâm lý từ các chuyên gia. Nếu cá nhân thấy rằng tự sát sẽ giúp họ giải thoát khỏi những đau khổ trong cuộc sống và quyết định lựa chọn giải pháp này thì lựa chọn đó sẽ đi vào trong tư duy của họ. [13] Tuy nhiên, Klonsky và May, 2014; Nock và cộng sự, 2008 cho rằng hầu hết những người có ý tưởng tự sát thường không nỗ lực tự sát. Van Orden và cộng sự, 2008 nhấn mạnh thông qua lý thuyết liên nhân cách rằng một cá nhân sẽ không chết vì tự sát nếu không có đủ 2 yếu tố: mong muốn được chết theo cách tự sát và khả năng thực hiện HVTS.
Điều đó có nghĩa là ý muốn tự sát không đủ để dẫn đến cái chết 7 mà những người muốn tự sát cũng cần phải có khả năng tự gây thương tích cho bản thân. Một số yếu tố nhân khẩu được tìm thấy có mối liên hệ với HVTS ở người trưởng thành bao gồm: Giới tính, Tuổi đời, Tình trạng hôn nhân, Những tổn thương thời thơ ấu, Nỗ lực tự sát trước đây và Các rối loạn tâm thần… (1) Giới tính: Báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO năm 2014 cho thấy, tỉ lệ tự sát ở nam giới so với nữ giới là 1,9. Tỉ lệ này có sự thay đổi theo mức thu nhập quốc dân. Tỉ lệ này ở các nước thu nhập cao là 3,5, trong khi ở các nước thu nhập trung bình và thấp là 1,6.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Borges và cộng sự tại 21 quốc gia vào năm 2010, tỉ lệ người có ý tưởng tự sát là nữ giới cao hơn nam giới trong khi tỉ lệ HVTS giữa hai giới là tương đương nhau. (2) Tuổi đời: Thống kê về tỉ lệ tự sát chung của thế giới nhóm tuổi từ 12 đến 15 tuổi là 97-131 người/100000 dân, nhóm tuổi từ 16 đến 20 là 277-341 người/100000 dân. Tỉ lệ này có xu hướng trẻ hoá. Cũng tại nước này trong giai đoạn từ năm 1980-1997, số thiếu niên dưới 15 tuổi tự sát đã tăng 120%, cao nhất so với các lứa tuổi khác.
(3) Tình trạng hôn nhân: Tự sát xảy ra nhiều hơn ở những người không kết hôn. Kyung-Sook và cộng sự (2018) trong một nghiên cứu về 36 trường hợp chỉ ra rằng những người không kết hôn có nguy cơ tự sát cao hơn gần gấp đôi so với những người kết hôn và sống với bạn đời. Các kết quả khác cũng chỉ ra nguy cơ tự sát tăng cao gần như tương đương ở những người độc thân hoặc goá chồng. Các tác giả đưa ra giả thuyết rằng hôn nhân giúp tăng cảm nhận ý nghĩa trong cuộc sống và sự hoà nhập xã hội nên có thể giảm bớt nguy cơ tự sát.
(4) Những tổn thương thời thơ ấu: Devries và cộng sự (2014) chỉ ra rằng so với những người không bị lạm dụng, nỗ lực tự sát có khả năng xảy ra gần gấp đôi ở những người trưởng thành từng bị xâm hại tình dục khi còn là trẻ em. (5) Nỗ lực tự sát trước đây: Tiền sử có HVTS trước đây được coi là yếu tố dự đoán chính xác nhất cho HVTS tiếp theo. Nguy cơ tự sát lớn nhất nằm ở những 8 người mắc tâm thần phân liệt, trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Nguy cơ tự sát cũng có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của các rối loạn tâm thần.
Những người mắc nhiều bệnh lý tâm thần dường như có nguy cơ tự sát cao hơn so với những người mắc trầm cảm không biến chứng hoặc rối loạn lo âu (Lonqvist, 2000). Nghiên cứu về HVTS ở sinh viên và các yếu tố tác động Ngoài cái chết do tự sát, suy nghĩ và HVTS là một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng của sinh viên đại học. Trên thực tế, hơn 50% sinh viên chưa tốt nghiệp đại học đã từng có một số kiểu suy nghĩ tự sát trong đời, với 18% từng bị coi là cố gắng tự sát (Drum, Brownson, Burton Denmark, & Smith, 2009). Julie Cerel, Mary Chandler Bolin và Melinda M.
Moore vào năm 2014 đã tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu thêm về thái độ và trải nghiệm của sinh viên đại học đối với tự sát và những người bị ảnh hưởng bởi nó, đồng thời xác định thái độ của sinh viên về việc đề phòng tự sát và kiến thức về các nguồn lực can thiệp tại Đại học Kentucky.