Nghiên cứu hiện trạng và phân bố quần thể gà lôi hông tía lophura diardi tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa đồng nai

Khóa luận nghiên cứu hiện trạng, phân bố quần thể Gà lôi hông tía tại KBT Đồng Nai, đánh giá các mối đe dọa và đề xuất giải pháp bảo tồn loài.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

61
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Gà lôi hông tía Lophura diardi

Gà lôi hông tía là một loài chim quý hiếm thuộc họ Pheasantidae, được tìm thấy chủ yếu tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên – Văn Hóa Đồng Nai. Loài này có giá trị khoa học cao và là đối tượng ưu tiên trong các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học. Nghiên cứu hiện trạng quần thể gà lôi hông tía là một phần quan trọng trong công tác quản lí bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên. Loài này có những đặc điểm sinh học độc đáo, thích ứng với môi trường rừng ẩm ở vùng Đông Nam Bộ. Việc nắm bắt thông tin chi tiết về tình trạng hiện nay của quần thể này giúp hỗ trợ các nhà quản lí và nhà khoa học trong việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả.

1.1. Đặc điểm nhận dạng và phân bố

Gà lôi hông tía được nhận dạng dễ dàng thông qua bộ lông màu tía đặc trưng ở vùng hông và các đặc điểm hình thái khác. Loài này phân bố chủ yếu tại các khu vực rừng nguyên sinh và rừng tái sinh ở Đông Nam Bộ Việt Nam. Vùng sinh sống ưa thích của chúng là những nơi có độ ẩm cao, thảm mục phong phú và ít bị tác động bởi con người.

1.2. Giá trị bảo tồn và tình trạng hiện tại

Hiện trạng quần thể gà lôi hông tía đang ở mức độ nguy cấp trên Danh sách Đỏ Quốc tế. Loài này có giá trị to lớn đối với bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam. Các mối đe dọa chính bao gồm mất mát môi trường sống, săn bắt trái phép và sự can thiệp của con người vào các vùng sinh cư tự nhiên.

II. Vùng phân bố tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Văn Hóa Đồng Nai

Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên – Văn Hóa Đồng Nai (KBT) là một trong những khu vực quan trọng nhất để nghiên cứu và bảo tồn quần thể gà lôi hông tía tại Việt Nam. Qua các cuộc điều tra theo tuyến, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được sự hiện diện của loài này ở nhiều vị trí khác nhau trong KBT. Mật độ cá thể gà lôi hông tía thay đổi theo các khu vực khác nhau, phụ thuộc vào chất lượng môi trường sống và mức độ bảo vệ. Các địa điểm có bề dày lớp thảm lá cây, đất xốp và thực vật dưới tán che phủ dày đặc thường có mật độ cá thể cao hơn. Việc xác định chính xác vùng phân bố này là cơ sở để xây dựng các kế hoạch quản lí hiệu quả.

2.1. Các khu vực phân bố chính

Nghiên cứu hiện trạng quần thể tại KBT cho thấy gà lôi hông tía tập trung ở các khu vực rừng che phủ kín, đặc biệt là những nơi có độ cao từ 400-800 mét. Các sinh cảnh ưa thích bao gồm rừng thứ sinh ổn định và các vùng có mang tính rừng nguyên sinh cao. Khu vực phía Tây và Tây Nam của KBT là những điểm nóng quan trọng cho bảo tồn loài này.

2.2. Mật độ cá thể và sự phân bố không đều

Kết quả điều tra cho thấy mật độ cá thể gà lôi không phân bố đều trên toàn bộ KBT. Một số tuyến điều tra ghi nhận 0-1 cá thể/10 hectare, trong khi các tuyến khác ghi nhận 2-3 cá thể/10 hectare. Sự khác biệt này phản ánh mức độ bảo vệ và chất lượng môi trường sống tại các khu vực khác nhau của KBT.

III. Các mối đe dọa chính ảnh hưởng đến quần thể

Hiện trạng quần thể gà lôi hông tía tại KBT Đồng Nai đang bị ảnh hưởng bởi nhiều mối đe dọa nghiêm trọng. Mất mát và suy thoái môi trường sống là yếu tố chính làm giảm mật độ cá thể và khả năng sinh sản của loài. Các hoạt động con người như lâm nghiệp không bền vững, xây dựng cơ sở hạ tầng và khai thác tài nguyên đều tác động tiêu cực. Ngoài ra, săn bắt trái phép vẫn còn xảy ra dù được cấm, làm suy giảm số lượng cá thể trong quần thể. Thay đổi khí hậu cũng gây ảnh hưởng đến sự phân bố của thức ăn tự nhiên và điều kiện sinh sống của loài. Việc nắm bắt rõ các mối đe dọa này là tiền đề để xây dựng các giải pháp bảo tồn phù hợp.

3.1. Mất mát và suy thoái môi trường sống

Phân tích hiện trạng cho thấy diện tích rừng nguyên sinh bị giảm liên tục do các hoạt động kinh tế. Rừng tái sinh không đạt chất lượng cao, thiếu thảm lá và thực vật dưới tán cần thiết. Mức độ bảo vệ không đều khiến mật độ cá thể gà lôi tại các khu vực bị ảnh hưởng sâu sắc hơn. Cần tập trung bảo tồn các khu vực rừng nguyên sinh còn lại.

3.2. Hoạt động con người và biến đổi khí hậu

Các hoạt động như lâm nghiệp, xây dựng và khai thác gây tác động trực tiếp đến quần thể gà lôi hông tía. Biến đổi khí hậu làm thay đổi mô hình mưa, ảnh hưởng đến thức ăn tự nhiên. Những diễn biến này đòi hỏi bảo tồn cấp bách thông qua quản lí chặt chẽ hơn.

IV. Giải pháp bảo tồn quần thể gà lôi hông tía

Để bảo vệ và phục hồi quần thể gà lôi hông tía tại KBT Đồng Nai, cần thực hiện các giải pháp bảo tồn toàn diện. Nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về tầm quan trọng của loài và môi trường sống là bước đầu tiên. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và phòng chặn săn bắt trái phép là nhiệm vụ cấp bách. Cần phục hồi sinh cảnh rừng thông qua các dự án tái sinh rừng chất lượng cao. Đồng thời, bảo tồn các khu rừng nguyên sinh còn lại là ưu tiên hàng đầu. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học sẽ giúp tìm ra các biện pháp hiệu quả hơn. Lập kế hoạch quản lí dài hạn dựa trên hiện trạng quần thể hiện tại là nền tảng cho thành công.

4.1. Nâng cao nhận thức và tăng cường quản lí

Các chương trình giáo dục cộng đồng cần được triển khai rộng rãi để tăng cường nhận thức về bảo tồn gà lôi hông tía. Tăng cường đội ngũ kiểm lâm, nâng cao kỹ năng tuần tra và sử dụng công nghệ hiện đại. Xây dựng hệ thống phạt nặng đối với săn bắt trái phép để giảm mối đe dọa chính này.

4.2. Phục hồi môi trường sống và nghiên cứu khoa học

Thực hiện dự án tái sinh rừng theo tiêu chuẩn chất lượng cao, ưu tiên các khu vực có mật độ cá thể thấp. Tiếp tục nghiên cứu hiện trạng quần thể định kỳ để theo dõi hiệu quả bảo tồn. Hợp tác quốc tế giúp trao đổi kinh nghiệm và nguồn lực cho công tác bảo tồn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về loài Gà lôi hông tía (Lophura diardi) 1. Đặc điểm nhận dạng loài Tên thông thường: Gà lôi hông tía Tên khoa học: Lophura Diardi Tên Tiếng Anh: Siamese Fireback Họ Trĩ : Phasianidae Bộ Gà : Galliformes Lớp: Chim Chim trống: Gà Lôi hông tía là một loài chim có dáng đẹp, dài khoảng 61 - 81 cm, nặng khoảng 1,5kg .Con đực trưởng thành đầu và họng màu đen,trên đầu có mào lông dài màu xanh ánh thép, phần dưới bụng có màu vàng kim loại, hông và lông bao đuôi màu hạt dẻ, đuôi cong dài hình lưỡi liềm có màu xanh ánh thép,phần còn lại có cổ và ngực màu xám,phía bụng có màu đen. Chim mái: Đầu, họng và cổ màu nâu xám,lưng trên và phần dưới cơ thể màu nâu hung, bụng màu trắng nhạt, phần còn lại của mặt trên cơ thể có vằn đen và trắng phớt nâu, các lông đuôi ngoài có màu hạt dẻ.

Đặc điểm sinh học, sinh thái Chim non trưởng thành bắt đầu sinh sản vào năm thứ ba. Mỗi lứa đẻ 5 - 6 trứng hình bầu dục một đầu to một đầu nhỏ, vỏ trứng màu hung nhạt hay hơi vàng nhạt. Kích thước trứng: 38 x 48mm. Thức ăn của Gà lôi hông tía là các loại hạt, quả cây trong rừng; ngoài ra ăn thêm côn trùng, giun đất.

Gà lôi hông tía sống thành đôi hay đàn 3 - 5 con có thể hơn trong các rừng thứ, nguyên sinh, cây bụi, hay ra kiếm ăn ở dọc các đường mòn trong rừng. Giống như các loài trĩ khác ban ngày kiếm ăn ở mặt đất, ban đêm bay lên cây đậu ngủ. Trong cùng sinh cảnh cũng hay gặp gà lôi hông tía kiếm ăn cùng với Gà tiền mặt đỏ, Gà tiền mặt vàng, Gà so ngực gụ, Gà rừng. Hình ảnh về Gà lôi hông tía (Lophura Diardi) 1.

Vùng phân bố Trong nước: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai, Tây Ninh. Thế giới: Lào, Campuchia, Thái Lan. Hình ảnh về vùng phân bố Gà lôi hông tía 1. Giá trị và tình trạng hiện nay Gà lôi hông tía là loài quý hiếm, chỉ phân bố rộng ở vùng Đông Dương, có giá trị khoa học.

Bộ lông có nhiều màu sắc đẹp, làm cảnh. 4 Hiện nay vùng phân bố rừng bị khai thác mạnh, nơi cư trú bị thu hẹp nhanh, bị săn bắt bừa bãi, số lượng ngày càng bị giảm sút nên hiếm dần. Tình trạng bảo tồn - Thế giới: Sách đỏ IUCN phân hạng sẽ nguy cấp: NT (gần bị đe dọa). - Việt nam: Sách đỏ Việt Nam phân hạng sẽ nguy cấp: VU (sẽ nguy cấp), Nghị định 06/2019 và Nghị định 64/2029.

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và Thế giới 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, Gà lôi hông tía còn được thấy tại các địa phương như: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Khánh Hoà, Đồng Nai, Tây Ninh. Những nghiên cứu sâu về sinh thái, sinh học và phân bố của loài Gà lôi hông tía còn rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến quá trình quản lý, bảo tồn loài rất khó khăn.

Trước đây vùng phân bố của Gà lôi hông tía được trải dài từ Hà Tĩnh đến Đông Nam Bộ nhưng hiện nay vùng phân bố đã bị thu hẹp đi rất nhiều do mất rừng, mở rộng diện tích nông nghiệp, số lượng cá thể cũng bị giảm mạnh do mất nơi sinh sống và bị săn bắt quá mức. Tuy chưa có nhiều nghiên cứu về loài Gà lôi hông tía được thực hiện nhưng các nghiên cứu về các loài thuộc bộ Gà tại Việt Nam. Nghiên cứu về Trĩ sao (Rheinartia ocellata) tại Trung Trường Sơn cho thấy loài này thích sinh cảnh tự nhiên. Điều tra thành phần và số lượng các loài chim thuộc họ Trĩ (Fasianidae) ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng do nhóm nghiên cứu Lê Thúc Định, Đặng Ngọc Kiên và Đinh Hoàng Tuấn thực hiện cho thấy tần suất bắt gặp loài này khá cao.

Một số nghiên cứu khác về đánh giá đặc điểm sinh thái, mật độ quần thể của các loài Gà tiền mặt đỏ, gà so ngực gụ tại một số vườn quốc gia của Việt Nam. Kế hoạch Hành động Bảo tồn Gà lôi lam mào trắng (Lophura Edwardsi 2015-2020) do nhóm Hoạt động Bảo tồn Gà lôi lam mào trắng Việt Nam thực hiện nhằm Bảo vệ và quản lý sinh cảnh nơi loài này sinh sống, điều phối nhân nuôi và bảo tồn giống gà này. Võ Quý, Trần Gia Huấn (1960,1961), Võ Quý (1962,1966), Võ Quý và Đỗ 5 Ngọc Quang (1965) có 3 loài trong nhóm chim Trĩ và các tác giả có nêu một số nét đặc tính phân bố, thức ăn của gà rừng (Gallus Gallus Jabouillei), gà lôi trắng (Lophura N. Tiếp theo đó có Võ Quý, Anorova (1967a, 1967b) công bố về sinh học loài gà rừng (Gallus Gallus Jabouillei).

Tạp chí sinh học (Hà Nội) đã công bố nghiên cứu của Trương Văn Lã, Lê Xuân Cảnh (1993) “Tính toán số lượng gà rừng (Gallus Gallus Gallus) ở rừng nhiệt đới ẩm tại hai vườn quốc gia Nam Cát Tiên tỉnh Đồng Nai và Bạch Mã tỉnh Thừa- Thiên-Huế.” Năm 1995, tác giả Trương Văn Lã - Viện sinh thái tài nguyên sinh vật đã báo cáo về công trình nghiên cứu “Góp phần nghiên cứu nhóm chim Trĩ và đặc điểm sinh học, sinh thái của gà rừng lông đỏ (Gallusgallus Gallus), Trĩ bạc (Lophura Nycthemera Nycthemera), Công (Pavo Muticus Imperator) và biện pháp bảo vệ chúng”. Năm 2010 Võ Văn Sự - Viện chăn nuôi quốc gia đã báo cáo về“Nghiên cứu một số ñặc tính sinh học, khả năng sinh sản ñể nhân nuôi và phát triển loài gà rừng (Gallus Gallus) tại Vườn quốc gia Cúc Phương”. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng 300 loài thuộc bộ Gà được ghi nhận lại. Theo ước tính có khoảng 26% loài được xếp vào nhóm do các tác động của con người gây ra cho chúng như săn bắt quá mức, mất nơi sinh sống, môi trường sống bị đe dọa nghiêm trọng (IUCN 2016), khu vực Đông Nam Á là một trong những khu vực loài sống nhiều nhất với 54 loài thuộc họ Trĩ (Pheasant) vì còn tồn tại nhiều cánh rừng tự nhiên.

Việt Nam là một trong các quốc gia có số lượng loài họ Trĩ lớn nhất với thống kê là 22 loài. Diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam hiện nay giảm 60 -70% trong gần những năm trở lại đây. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài thuộc họ Trĩ vì loài này cần sống trong môi trường tự nhiên nên không thể thích nghi được với môi trường đất nông nghiệp như hiện nay. Trong hệ sinh thái hiện nay, các loài thuộc bộ Gà được xem là có đóng góp quan trọng trong cân bằng sinh thái là giúp phát tán hạt của một số loài thực vật.

Bộ 6 Gà cũng được xem là một trong những loài đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của xã hội, nghiên cứu khoa học. Nhiều giống gà nhà hiện nay đã được thuần hóa từ các loài gà hoang dã với mục đích lấy thịt, trứng. Gà lôi hông tía được phân bố rộng ở khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Gần đây các nhà nghiên cứu thuộc viện y tế quốc gia Mỹ tuyên bố đã hoàn thành giải mã gen gà rừng, tổ tiên của các loài gà nhà hiện nay.

Họ đã đặt bản đồ gen gà rừng và bản đồ gen của con người song song với nhau, để giúp các nhà khoa học so sánh và hiểu được bộ máy sinh hoá của chính con người. Đánh giá chung Các nghiên cứu trên giúp làm đa dạng thêm về bộ Gà trên thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên những nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái, sinh học và phân bố của loài Gà lôi hông tía còn rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến quá trình quản lý, bảo tồn loài rất khó khăn.

Hiện nay vùng phân bố của loài Gà lôi hông tía đã bị thu hẹp đi rất nhiều do mất rừng, mở rộng diện tích nông nghiệp, số lượng cá thể cũng bị giảm mạnh do mất nơi sinh sống và bị săn bắt quá mức. Do vậy, em đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng Gà lôi hông tía (Lophura Diardi) tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Văn Hóa Đồng Nai” để góp phần làm đa dạng hơn về loài này. Đặc điểm khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên 1.

Vị trí địa lí KBT thiên nhiên và di tích (BTTN & DT) Vĩnh Cửu có diện tích 100.571 ha, được thành lập theo Quyết định số 09/2006/QĐ-UBND ngày 20 tháng 2 năm 2006 của UBND tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở sát nhập Khu dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu với Trung tâm quản lí di tích chiến khu Đ. Khu BTTN & DT Vĩnh Cửu thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Tọa độ địa lí là: 11003’ - 11030’B, 106054’ - 107013’Đ. - Phía Đông giáp với Vườn quốc gia Cát Tiên và hồ Trị An.

- Phía Bắc và phía Tây giáp với tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương. 7 - Phía Nam là vùng lòng hồ nhà máy thủy điện Trị An và sông Đồng Nai. Độ cao trung bình từ 100 - 200m so với mặt nước biển. Tổng diện tích tự nhiên của KBT trên 100.051 ha đất lâm nghiệp và 32.519 ha mặt nước (hồ Trị An).

KBT nằm trên địa bàn các xã Phú Lý, Mã Đà, Hiếu Liêm, thị trấn Vĩnh An thuộc huyện Vĩnh Cửu; xã Thanh Sơn thuộc huyện Tân Phú; xã Phú Cường, Phú Ngọc, La Ngà và Ngọc Định thuộc huyện Định Quán; xã Thanh Bình thuộc huyện Trảng Bom; xã Gia Tân thuộc huyện Thống Nhất - tỉnh Đồng Nai. Địa hình KBT nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Bảo Lộc – Lâm Đồng xuống vùng địa hình bán bình nguyên của Đông Nam Bộ, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, nghiêng từ Đông sang Tây. Khu vực phía Bắc và phía Tây địa hình gồm nhiều đồi dốc, nhưng độ chênh cao giữa các khu vực không nhiều và có sự chuyển tiếp từ từ. Độ cao thấp nhất là 20m, lớn nhất là 368m, bình quân 100 – 120m; độ dốc lớn nhất là 350, độ dốc bình quân là 80 – 100.

Địa hình vùng đồi núi phân bố trong khu vực với 3 cấp độ cao khác nhau: - Đồi cao: Phân bố chủ yếu tại khu vực Phú Lý chiếm khoảng 32% tổng diện tích đất lâm nghiệp. - Đồi trung bình: Phân bố chủ yếu tại khu vực Mã Đà chiếm khoảng 41% tổng diện tích đất lâm nghiệp. - Đồi cao: Phân bố chủ yếu tại khu vực Hiếu Lâm chiếm khoảng 27% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Thổ nhưỡng Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất, tỷ lệ 1/50.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ