mở đầu bài học mới, có tác dụng gây hứng thú, lôi cuốn học sinh vào vấn đề sẽ trình bày, giúp học sinh nắm bài học dễ hơn. Ví dụ: Trước khi vào bài “Hiện tượng căng mặt ngoài. Sự dính ướt” có thể đưa ra bài toán: “Chúng ta thường thấy kim chìm khi đặt xuống nước. Nhưng nếu ta đặt nhẹ kim lên mặt nước thì kim cũng có thể nổi được trên mặt nước.
Vì sao lại sảy ra hiện tượng như vậy? ” - Bài tập vật lí còn là hình thức củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh. - Bài tập vật lí còn có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Như vậy vai trò của bài tập vật lí trong quá trình dạy học là rất lớn, tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện sư phạm nhất định. Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có một hệ thống bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với mục đích dạy học, với yêu cầu rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và năng lực, nhu cầu của người học.
Vai trò của bài tập vật lí đối với việc phát hiện và bồi dưỡng kiến thức cho HS có năng lực tốt và HS giỏi Bồi dưỡng kiến thức cho HS có năng lực học tốt, HS giỏi là công việc không thể thiếu và diễn ra hàng năm ở các lớp chọn trong trường THPT. Việc sử dụng các bài tập vật lí nhằm phát hiện và bồi dưỡng HS có năng lực học tốt cần phải có sự quan tâm, đầu tư lựa chọn nguồn sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao. Trong dạy học Vật lí, bài tập là một phương tiện và phương pháp rất có lợi thế để hình thành các kỹ năng và phát trtiển năng lực tư duy cho HS. Năng lực nhận thức của học sinh được phát triển trong quá trình giải bài tập vật lí như sau: + Phát hiện vấn đề nhận thức từ việc nghiên cứu hiện tượng và từ bài tập Vật lí.
+ Phát hiện vấn đề nhận thức của HS cũng có thể quan sát được trong giai đoạn nghiên cứu đề bài và quá trình giải bài tập vật lí. + Bài tập rèn luyện cách giải nhanh, thông minh,rèn luyện khả năng suy luận, diễn đạt chính xác và logic. + Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng thực hành. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, khi bồi dưỡng kiến thức Vật lí cho HS các lớp chọn qua hệ thống bài tập, ngoài mức độ luyện tập thông thường, GV phải yêu cầu ở mức cao hơn.
Học sinh phải biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, biết đề xuất, đánh giá theo ý kiến riêng hoặc đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí tình huống. Do đó, với nét đặc thù của mình, bài tập vật lí có vai trò lớn trong việc rèn luyện, bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy sáng tạo và các kỹ năng cho HS lớp chọn. Vai trò, tác dụng của bài tập phần sóng cơ và sóng âm trong chương trình Vật lí phổ thông Bài tập sóng cơ và sóng âm ngoài vai trò và tác dụng như bài tập Vật lí nói chung , bài tập phần này có vài đặc điểm riêng của nó như sau: - Bài tập phần này ôn tập và củng cố phương pháp tổng hợp dao động điều hòa cùng tần số và có độ lệch pha không đổi. - Mở rộng hiện tượng dao động của một phần tử vật chất thành hiện tượng dao động của nhiều phần tử vật chất.
- Làm cơ sở giúp học sinh dễ hiểu khi học đến phần giao thoa sóng điện từ, giao thoa sóng ánh sáng, lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng. - Giúp học sinh hiểu rõ: bản chất của âm thanh, sự truyền âm. mà hàng ngày học sinh thường gặp. Phân loại bài tập Vật lí Bài tập vật lí rất đa dạng và phong phú.
Tùy vào mục đích sử dụng, tùy theo nội dung, tùy vào mức độ yêu cầu phát triển tư duy, theo phương thức cho điều kiện và theo phương thức giải mà phân loại bài tập theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy Theo yêu cầu mức độ phát triển tư duy, có thể phân bài tập thành hai loại là bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo. - Bài tập luyện tập: Là loại bài tập mà những hiện tượng xảy ra chỉ tuân theo một quy tắc, một định luật vật lí đã biết, học sinh chỉ cần áp dụng những kiến thức rất cơ bản, sắp xếp chúng cho hợp lý. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Loại bài tập này dùng để củng cố kiến thức lí thuyết cơ bản đã học, hoặc sau khi học một kiến thức vật lí mới, giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các khái niệm, định luật vật lí mới nghiên cứu, nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhất định đã được chỉ dẫn cách thức giải.
Bài tập loại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh. Nó rèn luyện cho học sinh các đức tính tốt như: kiên trì, tự lực. - Bài tập sáng tạo: Yêu cầu học sinh có đầu óc tư duy và sáng tạo, có khả năng phân tích đề bài, biết cách sử dụng kiến thức vào chỗ nào cho đúng, hoặc tổng hợp kiến thức lại, hoặc chia nhỏ để áp dụng kiến thức. Do đó bài tập loại này để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.
Loại bài tập này dùng để xây dựng bài học và hoàn thiện thêm kiến thức cho học sinh, thường đưa ra trong tiết ôn tập. Bài tập sáng tạo có hai loại: + Bài tập nghiên cứu: Là loại bài tập cần giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở mô hình trừu tượng thích hợp rút ra từ lí thuyết vật lí. + Bài tập thiết kế: Là loại bài tập vận dụng các kiến thức lí thuyết đã biết để đưa ra mô hình mới phù hợp với mô hình trừu tượng. Căn cứ theo nội dung - Theo đề tài : Phân ra bài tập cơ học, điện học, nhiệt học, quang học… - Bài tập có nội dung cụ thể: Là các bài tập có dữ liệu là các số cụ thể, thực tế và học sinh có thể đưa ra lời giải dựa vào vốn kiến thức vật lí cơ bản đã có.
Những bài tập có nội dung cụ thể giúp học sinh hiểu kiến thức sâu sắc và chắc chắn. Bài tập loại này yêu cầu học sinh phân tích đúng bản chất vật lí của hiện tượng thực tế, từ đó có thể vận dụng các kiến thức vật lí để giải. - Bài tập có nội dung trừu tượng: Là các bài tập mà các dữ kiện cho dưới dạng chữ. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong bài tập này, bản chất được nêu bật trong đề bài, những chi tiết không bản chất đã được lược bỏ bớt.
Học sinh có thể nhận ra được cần sử dụng công thức, định luật vật lí nào đó để giải bài tập đã cho. - Bài tập có nội dung kỹ thuật tổng hợp: Là các bài tập có nội dung chứa đựng các kiến thức về kĩ thuật, về sản xuất, công nông nghiệp, về giao thông vận tải. - Bài tập có nội dung lịch sử: Là các bài tập chứa đựng các kiến thức có liên quan đến lịch sử như những dữ liệu về các thí nghiệm vật lý cổ điển, những phát minh, sáng chế hoặc những câu chuyện có tính chất lịch sử. - Bài tập vui: Là các bài tập sử dụng các sự kiện, hiện tượng kì lạ hoặc vui.
Việc giải các bài toán này sẽ làm cho tiết học thêm sinh động, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh. Căn cứ theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải Theo cách phân loại này ta có thể phân chia thành các dạng: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập đồ thị và bài tập thí nghiệm, bài tập trắc nghiệm khách quan. - Bài tập định tính: Có hai loại bài tập định tính là giải thích hiện tượng vật lí và dự đoán hiện tượng vật lí. + Giải thích hiện tượng: Là loại bài tập cho biết một hiện tượng vật lí và giải thích xem vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế.
+ Dự đoán hiện tượng: Là loại bài tập căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đề bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng và dự đoán được hiện tượng gì xảy ra và xảy ra như thế nào. - Bài tập định lượng: Là loại bài tập có dữ liệu là các số cụ thể, học sinh phải giải chúng bằng các phép tính toán, sử dụng công thức để xác lập mối quan hệ phụ thuộc định lượng giữa các đại lượng phải tìm và nhận được kết quả dưới dạng một công thức hay một giá trị bằng số. - Bài tập đồ thị: Dạng bài tập này rất phong phú. Có thể cho sẵn đồ thị đi tìm một yếu tố nào đó hoặc từ các dữ liệu đã biết đi xây dựng đồ thị.
Loại bài tập này giúp học sinh thấy được một cách trực quan mối quan hệ giữa các đại lượng vật lí. - Bài tập thí nghiệm: Là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải lý thuyết hoặc để tìm ra những số liệu cần thiết cho bài tập. Bài tập 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thí nghiệm có tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn. - Bài tập trắc nghiệm khách quan: Là bài tập thường được dùng để kiểm tra kiến thức trong một phạm vi rộng, số lượng người được kiểm tra nhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc vào người chấm.
Bài tập dạng này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều các kiến thức liên quan. Bài tập vật lí Phân loại theo yêu cầu Phân loại theo phương thức Phân loại theo nội dung phát triển tư duy cho điều kiện và phương thức giải Bài Bài Đề Bài Kỹ Bài Bài Bài Bài tập tập tập tài tập thuật tập tập tập Bài tập Bài tập Bài tập Bài tập trắc có có vật lí có tổng vui luyện sáng định định đồ thí nghiệm nội nội nội hợp tập tạo tính lượng thị nghiệm khách dung dung dung quan cụ thể trừu lịch tượng sử Bài Bài Cơ Nhiệt Điện Quang tập tập thiết nghiên kế cứu Hình 1.1: Sơ đồ phân loại bài tập vật lí 1.