Luận văn thạc sĩ về hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế tạo hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho các thí nghiệm về phóng xạ ở phổ thông, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Sư Phạm Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích của đề tài

0.3. Cách tiếp cận

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Cấu trúc của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Lý thuyết về phóng xạ

1.2. Các hạt Beta (β), positron, neutrino

1.3. Tia gamma và tia Roentgen

1.4. Proton và neutron (nuclon)

1.5. Tương tác của các bức xạ với vật chất

1.6. Lý thuyết về các ống đếm phóng điện qua khí

1.7. Giới thiệu máy Ludlum Model 2200 và đầu dò nhấp nháy Model 44-10

1.7.1. Đầu dò nhấp nháy model 44-10

1.7.2. Đầu dò Geiger-Muller SBT11A

1.7.2.1. Lịch sử phát triển
1.7.2.2. Cấu tạo của đầu dò
1.7.2.3. Ưu điểm của loại ống đếm này
1.7.2.4. Nhược điểm

1.8. Nguồn phóng xạ sử dụng trong thí nghiệm

1.9. Lý thuyết về mạch vi xử lý Arduino

1.9.1. Các phần chính của mạch

1.9.2. Chức năng (vai trò) của mạch Arduino trong hệ thống máy đếm

1.9.3. Ngôn ngữ lập trình

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ HỆ THỐNG

2.1. Đầu dò Geiger-Muller SBT 11A

2.2. Mạch tăng áp 12V-400V-DC

2.3. Mạch hiển thị LCD – LCD2004

2.4. Mạch chuyển tiếp cho LCD2004 sang I2C

2.5. Mạch điều khiển động cơ bước

2.6. Vi xử lý Arduino Uno

2.7. Sơ đồ mạch điện của hệ thống

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: TIẾN HÀNH ĐO ĐẠC VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3.1. Đo sự thay đổi cường độ phóng xạ vào khoảng cách

3.1.1. Đo bằng máy LUDLUM MODEL 2200

3.1.2. Đo bằng hệ thống của chúng tôi

3.2. Đo khả năng đâm xuyên của tia phóng xạ qua từng vật liệu

3.2.1. Các bước tiến hành

3.2.2. Kết quả: Đo với nguồn phóng xạ Cs137

3.3. Nhược điểm

3.4. Hướng phát triển về sau

3.5. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ

Hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ là một công nghệ tiên tiến, giúp nâng cao hiệu quả trong việc đo lường và giám sát bức xạ. Hệ thống này cho phép người dùng thực hiện các thí nghiệm phóng xạ mà không cần tiếp xúc trực tiếp với nguồn phóng xạ, từ đó đảm bảo an toàn cho người thực hiện. Việc áp dụng công nghệ này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao độ chính xác trong các phép đo.

1.1. Lý do phát triển hệ thống đầu dò phóng xạ

Sự phát triển của hệ thống đầu dò phóng xạ xuất phát từ nhu cầu bảo đảm an toàn cho người sử dụng trong các thí nghiệm phóng xạ. Việc sử dụng đầu dò điều khiển từ xa giúp giảm thiểu rủi ro tiếp xúc với bức xạ, đồng thời nâng cao khả năng giám sát và kiểm soát các nguồn phóng xạ.

1.2. Các thành phần chính của hệ thống

Hệ thống đầu dò điều khiển từ xa bao gồm các thành phần chính như đầu dò Geiger-Muller, mạch điều khiển Arduino, và các cảm biến phóng xạ. Mỗi thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động hiệu quả của hệ thống.

II. Thách thức trong việc phát triển hệ thống đầu dò phóng xạ

Mặc dù hệ thống đầu dò điều khiển từ xa mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải một số thách thức trong quá trình phát triển. Các vấn đề như độ chính xác của phép đo, khả năng tương thích giữa các thiết bị, và yêu cầu về an toàn khi sử dụng là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Độ chính xác trong đo lường phóng xạ

Độ chính xác của hệ thống đầu dò phóng xạ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chất lượng của đầu dò và cách thức xử lý tín hiệu. Việc cải thiện độ chính xác là một trong những thách thức lớn nhất trong việc phát triển hệ thống.

2.2. An toàn khi sử dụng hệ thống

An toàn là yếu tố hàng đầu trong các thí nghiệm phóng xạ. Hệ thống cần được thiết kế sao cho người sử dụng không bị ảnh hưởng bởi bức xạ, đồng thời đảm bảo rằng các thiết bị hoạt động ổn định và an toàn.

III. Phương pháp thiết kế hệ thống đầu dò điều khiển từ xa

Thiết kế hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ bao gồm nhiều bước quan trọng. Từ việc lựa chọn các linh kiện phù hợp đến việc lập trình cho mạch điều khiển, mỗi bước đều cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo hệ thống hoạt động hiệu quả.

3.1. Lựa chọn linh kiện cho hệ thống

Việc lựa chọn linh kiện như đầu dò Geiger-Muller và mạch Arduino là rất quan trọng. Các linh kiện này cần phải đáp ứng được yêu cầu về độ nhạy và khả năng xử lý tín hiệu.

3.2. Lập trình mạch điều khiển

Lập trình cho mạch điều khiển Arduino là bước quan trọng để hệ thống có thể hoạt động tự động. Các mã lệnh cần được tối ưu hóa để đảm bảo tốc độ xử lý và độ chính xác cao.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hệ thống đầu dò phóng xạ

Hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ có nhiều ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu. Nó không chỉ giúp học sinh có cơ hội thực hành các thí nghiệm phóng xạ mà còn hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong việc thu thập dữ liệu chính xác.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục

Hệ thống này giúp học sinh có cái nhìn trực quan hơn về phóng xạ, từ đó nâng cao hứng thú học tập. Việc thực hành thí nghiệm phóng xạ sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm vật lý liên quan.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu, hệ thống đầu dò phóng xạ giúp các nhà khoa học thu thập dữ liệu một cách chính xác và an toàn. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển các công nghệ mới và cải tiến quy trình nghiên cứu.

V. Kết luận và tương lai của hệ thống đầu dò phóng xạ

Hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, hệ thống này hứa hẹn sẽ ngày càng hoàn thiện và trở thành công cụ hữu ích cho nhiều lĩnh vực khác nhau.

5.1. Tương lai của công nghệ đầu dò phóng xạ

Công nghệ đầu dò phóng xạ sẽ tiếp tục phát triển với sự cải tiến về độ nhạy và khả năng xử lý tín hiệu. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc giám sát và đo lường bức xạ.

5.2. Khả năng mở rộng ứng dụng

Hệ thống đầu dò phóng xạ có thể được mở rộng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ y tế đến công nghiệp. Việc áp dụng công nghệ này sẽ giúp nâng cao hiệu quả và an toàn trong các quy trình làm việc.

14/07/2025
Luận văn thạc sĩ chế tạo hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho các thí nghiệm về phóng xạ ở phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về phóng xạ [1] Các phương pháp ghi nhận hạt nhân và tia vũ trụ được sử dụng ngày nay rất đa dạng nhưng không phải là vạn năng. Đối với mỗi bài toán cần phải chọn một phương pháp thích hợp nhất. Muốn vậy nhà thực nghiệm phải có sự hiểu biết về tính chất vật lý của các đối tượng cần ghi nhận, về nguồn gốc của bức xạ hạt nhân và các tính chất chung của chúng. Phần này sẽ trình bày các vấn đề nói trên.1 Các hạt alpha (α) 4 Các hạt α là hạt hạt nhân của nguyên tử Heli ( He) do các chất phóng xạ phát ra.

Trong các hạt nhân nặng phóng xạ tự nhiên, có nhiều hạt nhân, như U, Th, Ra, v.v…, có tính chất phóng xạ α. Các hạt α cũng được phát ra từ một số chất phóng xạ nhân tạo. Những chất này nằm ở giữa hoặc cuối bảng tuần hoàn các nguyên tố (Gd, Tb, Pu, Am, v. Năng lượng của các hạt α được phát ra bởi các hạt nhân phóng xạ khác nhau năm trong vùng từ 3 đến 9 MeV.

Các đổng vị phóng xạ khác nhau có thể phát ra một hoặc một số nhóm hạt α đơn năng. Năng lượng của một nhóm hạt α đã cho thì phụ thuộc vào trạng thái năng lượng của hạt nhân phát bức xạ và hạt nhân là sản phẩm phân rã. Theo đó, các hạt α đôi khi còn được gọi là các hạt có quãng chạy ngắn hoặc quãng chạy dài so với các hạt được tạo thành khi chuyển từ trạng thái cơ bản của hạt nhân mẹ vể trạng thái cơ bản của hạt nhân con. Chẳng hạn, hạt α xuất hiện trong kết quả phân rã α từ trạng thái kích thích của hạt nhân mẹ về trạng thái cơ bản của hạt nhân con sẽ có năng lượng lớn hơn.

Các hạt α như vậy được gọi là hạt α quãng chạy dài. Các hạt α quãng chạy ngắn được gọi là những hạt xuất hiện trong chuyển dời từ trạng thái cơ bản của hạt nhân mẹ về trạng thái kích thích của hạt nhân con.2 Các hạt Beta (β), positron, neutrino Các electron phát ra trong phân rã của các hạt nhân phóng xạ được gọi là các - hạt β. Khác với phổ năng lượng gián đoạn của các hạt α, phổ năng lượng của các - hạt β là phổ liên tục. Năng lượng của chúng thay đổi từ 0 đến một giá trị giới hạn - Egh nào đó đặc trưng cho từng đồng vị phóng xạ.

Thí dụ, năng lượng cực đại phổ β 32 14 của P bằng 1,7 MeV, của C bằng 0,155 MeV. Năng lượng giới hạn nhỏ nhất - 3 được biết ngày nay là năng lượng của các hạt β do triti phát ra ( H, Egh=18 keV). + + Các positron do các chất phóng xạ phát ra được gọi là các hạt beta cộng β ; phổ β cũng liên tục, thay đổi từ 0 đến một giá trị cực đại nào đó, đặc trưng cho mỗi đồng vị. + Thông thường các hạt β được các đồng vị có không đủ neutron so với đổng vị 2 bền của nguyên tố này phát ra.

Người ta biết nhiểu đồng vị có khả năng phát ra cả 64 positron lẫn electron Một trong những đồng vị đó là Cu. Trong phân rã của đồng vị này, các electron và positron được phát ra với cường độ gần như nhau. Electron và positron có khối lượng như nhau và có cùng điện tích đơn vị (của electron là điện tích âm, của positron là điện tích dương). Khối lượng tĩnh của các hạt này, 2 biểu diễn ra đơn vị năng lượng (moc ), có giá trị bằng 511keV.

- + Dạng liên tục của phổ β và β được giải thích là, trong phân rã beta của hạt nhân phóng xạ không phải chỉ có một mà là hai hạt được phát ra. Hạt thứ hai đó là + - neutrino trong phân rã β và phản neutrino trong phân rã β. Năng lượng phân rã, như vậy, được phân bố giữa ba hạt: hạt β, neutron (hoặc phản neutron và hạt nhân con là hạt thu một năng lượng giật lùi rất nhỏ nào đó. Neutrino là hạt không có điện tích.

Giới hạn trên đo được bằng thực nghiệm đối với giá trị khối lượng của nó bằng 20001me, trong đó me là khối lượng electron Neutrino do Pauli đưa ra để giải thích phổ năng lượng liên tục của các hạt beta, đã được Fermi sử dụng để xây dựng lý thuyết phân rã beta. Theo lý thuyết này, khối lượng neutrino phải bằng không. Có thể thu được các electron nhanh bằng các máy gia tốc: betatrôn cho electron năng lượng hàng chục MeV; xincrôưôn cho các electron năng lượng hàng trăm - hàng nghìn MeV và các máy gia tốc thẳng. Các cặp electron và positron được tạo thành trong tương tác của các tia gamma năng lượng cao (hơn 1,022MeV) với vật chất.

Electron và positron luôn luôn có mặt trong thành phần mềm của tia vũ trụ.3 Tia gamma và tia Roentgen Mỗi động tác phân rã phóng xạ phát ra hạt tích điện đều dẫn tới sự hình thành một hạt nhân mới là sản phẩm phân rã. Thường hạt nhân mới này được hình thành ở trạng thái kích thích.Thời gian tồn tại của hạt nhân ở trạng thái kích thích có thể rất khác nhau. Nó có thể có giá trị đo bằng đơn vị ngày, giờ, phút và những phần rất nhỏ của giây. Trong nhiều trường hợp, hạt nhân sản phẩm phân rã bị kích thích chuyển về trạng thái cơ bản hầu như một cách tức thời ngay sau động tác phân rã -13 -8 (sau 10 -10 s) kèm theo sự giải phóng năng lượng dư.

Chuyển dời từ trạng thái kích thích thường xảy ra theo kiểu nhảy bậc qua các trạng thái kích thích trung gian với năng lượng nhỏ hơn. Hình dưới mô tả sơ đồ các mức (tức là các trạng thái) của 60 hạt nhân Ni bị kích thích và được tạo thành trong kết quả phân rã của hạt nhân 60 Co. 3 Hình 1: Các mức năng lượng kích thích của hạt nhân Ni Chuyển dời về trạng thái năng lượng thấp hơn có thể xảy ra hoặc bằng cách phát bức xạ điện từ (các tia γ) hoặc bằng cách phát ra các electron biến hoán trong. Năng lượng các electron biến hoán trong sẽ bằng hiệu năng lượng kích thích của hạt nhân và năng lượng liên kết electron trên vỏ điện tử tương ứng của nguyên tử.

Như vậy sẽ xuất hiện các electron biến hoán trong K, L, M v. tương ứng với mỗi chuyển dời hạt nhân. Nếu các hạt nhân phóng xạ phân rã và phát ra các hạt bêta thì phổ electron thực nghiệm sẽ bao gồm cả phần liên tục ứng với các hạt β lẫn phần gián đoạn, ứng với những vạch hoàn toàn xác định của các electron biến hoán trong. Năng lượng kích thích của các hạt nhân thu đựơc trong phân rã phóng xạ của các đồng vị khác nhau, có thể có giá trị từ một vài keV đến một vài MeV.

Khi năng lượng kích thích cao thì chuyển dời của hạt nhân về trạng thái cơ bản thường xảy ra qua một số tương đối lớn những trạng thái kích thích trung gian. Điều này dẫn tới xuất hiện trong phổ một số lớn các lượng tử γ năng lượng khác nhau cũng như một số tương ứng các vạch electron biến hoán trong. Xác suất biến hoán phụ thuộc vào nhiều nhân tố: Nó giảm theo sự tăng lên của nâng lượng chuyển dời, tăng theo số Z của nguyên tố và phụ thuộc vào độ đa cực của chuyển dời. Biến hoán điện tử dẫn tới kết quả là, ở một trong các vỏ của nguyên tử, trong -9 -15 một thời gian ngắn (cỡ 10 -10 s), sẽ không có electron.

Ví dụ, biến hoán trên vỏ K tạo thành một vị trí trống ở vỏ này và sau thời gian ngắn nói trên, nó sẽ được lấp đầy bởi các electron từ những vỏ khác. Quá trình này toả ra một năng lượng bằng hiệu năng lượng liên kết electron ở vỏ có vị trí trống vừa xuất hiện và ở vỏ mà từ đó electron chuyển về vị trí trống nói trên. Năng lượng này được toả ra dưới dạng các tia Roentgen đặc trưng hoặc được truyền cho một hay một số electron trên các vỏ 4 cao hơn. Electron này thu được một động năng và dời bỏ nguyên tử.

Hiện tượng phát ra các electron thay cho các lượng tử Roentgen được gọi là hiệu ứng Auger, còn bản thân các electron này thì được gọi là các electron Auger. Năng lượng cực đại của các tia Roentgen đặc trưng có giá trị khác nhau đối với các nguyên tố hoá học khác nhau và thay đổi từ vài eV đối với các nguyên tố nhẹ đến hàng trăm keV đối với các nguyên tố nặng. Có thể thu được bức xạ điện từ năng lượng cao không chỉ trong phân rã phóng xạ hoặc trong các phản ứng hạt nhân mà còn trong các máy gia tốc điện tử (bêtatrôn, xincrôtrôn).Trong trường hợp này, các electron nhanh bị một bia hãm lại sẽ làm xuất hiện các lượng tử của bức xạ điện từ. Ngày nay năng lượng của các luợng tử thu đuợc bằng cách nói trên có thổ đạt giá trị hàng tỷ electron vôn.

Bức xạ điện từ năng lượng rất lớn cũng có mặt trong thành phần của các tia vũ trụ.4 Proton và neutron (nuclon) Proton (p) và neutron (n) là những thành phần cấu trúc cơ bản của hạt nhân nguyên tử. Do đó chúng được gọi bằng một tên chung là nuclon. Proton là hạt nhân của nguyên tử hydro. Có thể thu được các proton trạng thái tự do bằng cách ion hoá các nguyên tử hydro.

Có thể thu được các proton nhanh với năng lượng hàng triệu eV trong các xyclotron, và năng lượng hàng tỷ hoặc hàng chục tỷ eV trong các máy gia tốc xincrôfazotrôn. Cũng có thể thu được những chùm proton bằng các máy gia tốc thẳng. Proton tới Trái Đất trong thành phần của bức xạ vũ trụ sơ cấp. Chúng chiếm khối lượng chủ yếu (95%) của tắt cả các hạt vũ trụ sơ cấp.

Neutron là hạt trung hoà về điện và có khối lượng lớn hơn khối lượng proton một chút. Neutron được Chadwich khám phá vào nảm 1932 khi dùng hạt α bắn vào bia berili. Các neutron được tạo thành trong phản ứng 9 l2 Be + α —> C + n. Ngày nay phản ứng này thường được sử dụng để thu neutron (Các nguồn: Ra+Be; Po+Be).

Cũng có thể thu được các chùm hạt neutron tự do bằng những phản ứng hạt nhân khác. Ví dụ, trong máy phát neutron thì neutron được tạo thành trong các phản ứng: 5 4 D(d,n) He hoặc T(d,n) He. 4 Năng lượng neutron thu được trong phản ứng T(d,n) He bằng 14MeV. Những 5 nguồn neutron khác ngày nay là các lò phản ứng hạt nhân, trong đó neutron được tạo thành từ quá trình phân chia hạt nhân uranium hoặc plutonium.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hệ thống đầu dò điều khiển từ xa cho thí nghiệm phóng xạ" trình bày một hệ thống tiên tiến cho phép điều khiển và giám sát các thí nghiệm phóng xạ từ xa, mang lại sự tiện lợi và an toàn cho người sử dụng. Hệ thống này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro cho người thực hiện thí nghiệm mà còn nâng cao hiệu quả trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức hoạt động của hệ thống, cũng như các ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu và công nghệ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các hệ thống điều khiển từ xa, bạn có thể tham khảo tài liệu Đồ án hcmute hệ thống giám sát điều khiển thiết bị sử dụng vi điều khiển stm8s00f3p6 và sóng rf, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về việc giám sát và điều khiển thiết bị qua sóng RF. Ngoài ra, tài liệu Đồ án hcmute giám sát điều khiển thiết bị thông qua mạng gsm internet dùng module sim808 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng mạng GSM để điều khiển thiết bị từ xa. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ hcmute xây dựng giao diện thân thiện điều khiển ô tô từ xa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giao diện điều khiển từ xa trong lĩnh vực ô tô. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm về các công nghệ điều khiển từ xa và ứng dụng của chúng trong thực tiễn.