Chương 1: GIỚI THIỆU MỘT SỐ TIẾP CẬN CƠ BẢN TRONG LÝ LUẬN DẠY HỌC 1. Tiếp cận hoạt động và tiếp cận tâm lý nhận thức trong DH 1. Dạy và học theo tiếp cận HĐ Hoạt động dạy học dƣới góc nhìn của tiếp cận hoạt động là một hoạt động tích hợp 2 hoạt động thành phần thâm nhập vào nhau sinh thành ra nhau chi phối lẫn nhau đó là hoạt động dạy và hoạt động học. Tuy hai hoạt động này cộng tác chặt chẽ với nhau tạo nên bản chất toàn diện của quá trình dạy học nhƣng có thể tách ra xem xét từng hoạt động có tính độc lập tƣơng đối có mục đích, nội dung, cách thức tiến hành… đó là hoạt động giảng dạy và hoạt động học tập.
Tuy nhiên cả hai hoạt động này đều hƣớng vào việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu dạy học. Từ "hoạt động" trong tiếp cận hoạt động chủ yếu nhằm vào hoạt động học tập của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao trong học tập nhƣng cũng không loại trừ hoạt động dạy của giáo viên. Bởi vì chỉ khi ngƣời dạy có hoạt động đa dạng, tích cực và phù hợp với từng cá thể học thì mới có thể phát huy đƣợc những hoạt động tích cực của ngƣời học. Các thành tố của hoạt động dạy theo tiếp cận hoạt động Với ngƣời giáo viên hai thành tố chính theo tiếp cận hoạt động chính là hai hoạt động: hoạt động truyền thụ kiến thức và hoạt động điều khiển sƣ phạm.
Hoạt động điều khiển sƣ phạm quyết định chủ yếu chất lƣợng của hoạt động dạy. Mặc dù bất kỳ việc làm nào của giáo viên cũng là sự tích hợp cả hai dạng hoạt động này. Nhƣ vậy trong hoạt động của giáo viên, hoạt động truyền thụ và hoạt động điều khiển sƣ phạm luôn luôn tồn tại thống nhất, biện chứng với nhau. Sự tiết chế của mỗi dạng hoạt động này 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong từng tình huống cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu và nội dung dạy học của tình huống đó.
Các thành tố của hoạt động học theo tiếp cận hoạt động Với việc học tập của ngƣời học thì hai thành tố chính là hoạt động lĩnh hội và hoạt động tự điều khiển nhận thức. Trong đó hoạt động tự điều khiển nhận thức là quan trọng nhất. Chính hoạt động đó mới giúp cho học sinh không chỉ lĩnh hội đƣợc kiến thức mà còn hình thành đƣợc phƣơng pháp hoạt động trí óc - hay còn gọi là phƣơng pháp tƣ duy. Kiến thức có thể mất đi nhƣng phƣơng pháp tƣ duy thì còn mãi và giúp họ vững vàng trong mọi việc của cuộc sống, khi áp dụng nó.
Tính thống nhất hai mặt khi tiếp cận HĐ trong dạy học Tính thống nhất hai mặt thể hiện ở ba ý: thứ nhất là thống nhất giữa truyền thụ và điều khiển sƣ phạm của HĐ dạy, thứ hai là thống nhất giữa lĩnh hội và tự điều khiển nhận thức của HS, và cuối cùng là sự thống nhất, cộng tác qua lại và chi phối lẫn nhau giữa HĐ dạy và HĐ học. Tất cả những sự thống nhất đó có nguyên nhân là chúng xuất phát từ một mục tiêu và nội dung dạy học duy nhất. Đồng thời chúng cùng có một định hƣớng là sao cho đạt đƣợc mục tiêu dạy học cao nhất. Chính xuất phát điểm cũng nhƣ cái đích chung buộc các thành tố của QTDH phải có sự thống nhất và cộng tác tối đa liên tục trong suốt quá trình.
Dạy và học theo tiếp cận tâm lý nhận thức 1. Bộ máy học - trung tâm HĐ nhận thức Trong quá trình dạy học, ngƣời giáo viên là ngƣời quyết định trực tiếp NDDH. Thông qua các phƣơng pháp sƣ phạm khác nhau, giáo viên sẽ cố gắng chuyển tải tốt nhất những NDDH đó tới học sinh. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của việc học lại phụ thuộc chủ yếu vào năng lực xử lý, chọn lọc thông tin của học sinh mà ta còn gọi là tâm lý nhận thức.
Mỗi học sinh có một tâm lý nhận thức khác nhau. Chính vì vậy mà với cùng một giáo viên, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cùng một NDDH, cùng một phƣơng pháp truyền đạt nhƣng kết quả ở mỗi học sinh không giống nhau. Do đó trong QTDH, ngƣời dạy cần đặc biệt lƣu ý tới tâm lý nhận thức của lứa tuổi cũng nhƣ của từng đối tƣợng học sinh. Từ đó có thể sử dụng những phƣơng pháp tác động đặc thù với từng em, sao cho hiệu quả truyền đạt là cao nhất.
Dạy và học là nhƣ vậy, gọi là dạy và học theo tiếp cận tâm lý nhận thức. Theo tiếp cận này, ngƣời ta khẳng định trung tâm của hoạt động nhận thức chính là bộ máy học. Khi bộ máy học hoạt động đúng qui tắc của nó, kết quả học sẽ cao và ngƣợc lại. Bộ máy học là một hệ thống đặc biệt, bao gồm hệ thần kinh và các giác quan.
Kích thích Giác quan thu nhận Thông tin Nơron nhận truyền Vùng limpic: hứng thú Bán cầu phải tập hợp dữ liệu Trạng thái T Bán cầu trái định danh tri thức Tri thức đƣợc định hƣớng và tiếp nhận Hình 1.1: Quy tắc hoạt động của bộ máy học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thông tin đƣợc truyền tới ngƣời học sẽ biến thành kích thích đối với ngƣời học. Đƣơng nhiên giáo viên phải lƣu ý không phải bất cứ thông tin (hay vấn đề) nào cũng có tác dụng kích thích. Mà đó phải là những vấn đề đặt ra cho học sinh, không quá khó, nhƣng nếu chỉ dùng những tri thức đã biết thì không thể giải quyết đƣợc. Yêu cầu học sinh từ những kiến thức sẵn có, cộng thêm sự tìm tòi lý giải mới để giải quyết vấn đề.
Những kích thích này có thể tác động lên nhiều giác quan (mắt - thị giác, tai - thính giác.) sau đó đƣợc các nơron thần kinh nhận truyền lên não bộ, cụ thể ở đây là truyền đến vùng limbic - gây hứng thú. Từ đó bán cầu phải sẽ tập hợp các dữ liệu, trong đó có những dữ liệu có từ trƣớc khi học và cả những dữ liệu xuất hiện ngay ở trong thông tin vừa nhận (dữ liệu hỗn hợp). Tập hợp dữ liệu sẽ đƣợc phân tích, so sánh, tổng hợp, liên hệ,. (các thao tác tƣ duy) hay nói cách khác, não bộ sẽ xử lý các dữ liệu để định danh đƣợc tri thức mới.
Cuối cùng tri thức mới đƣợc tiếp nhận. Nói một cách khác, quá trình xử lý thông tin trong não ngƣời đƣợc diễn ra nhƣ sau: thông tin sau khi đƣợc đón nhận bởi giác quan nó đƣợc các nơron dẫn truyền tới hệ thần kinh trung ƣơng. Tại đây, sau khi vƣợt qua rào cản thứ nhất (limbic) nó đƣợc truyền tới bán cầu não phải, nơi tiếp nhận và chứa đựng các thông tin hỗn hợp: bao gồm thông tin nhận đƣợc từ bên ngoài (cảm giác về những kích thích bên ngoài) và thông tin đã đƣợc lƣu giữ (những trải nghiệm, kinh nghiệm - cái mà ngƣời học đã có). Sau khi thông tin tới bán cầu não phải, muốn tới đƣợc bán cầu não trái (chuyển từ cái không đồng nhất sang cái đồng nhất), chúng phải vƣợt qua "rào cản thứ hai" đó là trạng thái "T".
Trạng thái "T" chỉ xuất hiện khi thông tin đƣa vào bán cầu phải đƣợc đầy đủ, và ngƣời học tìm ra đƣợc mối liên hệ với những gì chủ thể đã biết. Cuối cùng khi đã vƣợt qua trạng thái "T", thông tin sẽ đƣợc bán cầu não trái xử lý (đọc tên hoặc đƣa ra kiến thức mới). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bán cầu phải Bán cầu trái Không Trạng thái Đồng đồng nhất nhất T Hình 1. Cơ chế nhận thức trong não người 1.
Các thành tố của dạy học theo quan điểm SPTT Ba thành tố chính, còn gọi là ba tác nhân của quá trình dạy học theo quan điểm SPTT: ngƣời học, ngƣời dạy và môi trƣờng. Ngƣời học: Từ "ngƣời học" trong quan điểm SPTT bao hàm tất cả các đối tƣợng đi học, có ý nghĩa là "cố gắng và học tập", ngoài ra còn có nghĩa rộng là "cam kết và trách nhiệm". Rõ ràng khác với từ "học sinh" - nhấn mạnh hơn tới mối quan hệ với ngƣời thầy và một số cơ sở trƣờng học. Ngƣời học với năng lực và sức sáng tạo của bản thân tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức mới.
Ngƣời học có khả năng khai thác những kinh nghiệm và những tri thức đã đƣợc tích lũy trƣớc đó để tìm hiểu và khám phá những tri thức mới. Theo quan điểm SPTT, ngƣời học trƣớc hết là chủ thể học mà không phải là ngƣời đƣợc dạy (thể hiện tính tự nguyện và chủ động). Ngƣời dạy và vai trò trong DH theo quan điểm SPTT: Ngƣời dạy bằng những kiến thức, kinh nghiệm, năng lực của mình giúp đỡ ngƣời học, chỉ cho ngƣời học cái đích phải đạt tới, khơi dậy hứng thú ở ngƣời học. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngƣời dạy đồng hành cùng ngƣời học, khuyên nhủ, động viên, chỉ bảo, giúp đỡ khi cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi để ngƣời học tham gia tích cực vào quá trình học.
Đƣợc trang bị tốt chuyên môn, nghiệp vụ giúp ngƣời dạy làm chủ nội dung và phƣơng pháp dạy. Với tƣ cách cố vấn, ngƣời dạy giúp ngƣời học biểu đạt rõ hơn những ý định, suy nghĩ của họ để giúp họ phát huy đƣợc tính chủ động, sáng tạo để học tốt môn học. Ngƣời dạy phải xác định rõ những gì ngƣời học cần và những gì ngƣời học có thể tự làm đƣợc từ đó chuyển giao những nhiệm vụ này cho họ thông qua giám sát và hƣớng dẫn. Đồng thời, ngƣời dạy hƣớng ngƣời học vào mục tiêu thực tế nhất của GD hiện đại: học gắn với hành.
Với tƣ cách tham gia vào QTDH, ngƣời dạy hoạt động nhƣ một thành viên của QT học tập ở trên lớp. Do đó ngƣời dạy còn có thêm vai trò bổ sung là nguồn tham khảo có giá trị cho ngƣời học, giúp ngƣời học tháo gỡ khó khăn và định hƣớng tƣ duy về trình độ chuẩn. Có thực hiện đƣợc vai trò nêu trên của ngƣời dạy, ngƣời dạy mới có thể phát huy đƣợc vai trò tích cực của ngƣời học, lựa chọn đƣợc phƣơng pháp và kỹ năng giảng dạy thích hợp. Với tƣ cách là ngƣời nghiên cứu, ngƣời dạy còn có khả năng tìm hiểu những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hƣởng đến quá trình dạy học, hiểu đƣợc đây là nhiệm vụ liên nhân cách :ngƣời học có vai trò trung tâm, ngƣời dạy có vai trò hỗ trợ.
Môi trƣờng: Môi trƣờng bao gồm: không khí, ánh sáng, âm thanh, thời gian. Đặc biệt, môi trƣờng xã hội với những cơ chế chính trị, gia đình và nhà trƣờng, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.