Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài Chương 2: Thiết kế một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2 trong dạy học phân môn Kể chuyện. Chương 3: Thực nghiệm hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2. 7 Phần Kết luận và đề xuất: gồm những kết quả đạt được, những đóng góp và các kiến nghị của luận văn về vấn đề rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 2. Phần phụ lục gồm các bảng hỏi dành cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh lớp 2, bảng hỏi học sinh sau khi tham gia thử nghiệm, kế hoạch bài dạy, phiếu hướng dẫn làm việc nhóm, kế hoạch thực hiện theo thời gian.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề rèn luyện kĩ năng nghe - nói trong dạy học phân môn Kể chuyện cho học sinh lớp 2 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề rèn kĩ năng nghe - nói (KNNN) cho học sinh (HS) giai đoạn đầu cấp tiểu học là đề tài phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và đã được rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập. Đầu tiên phải kế đến quyển sách “Dạy nghe và nói từ lý thuyết đến thực hành, 2008” (Teaching Listening and Speaking from theory to practise, 2008), Jack Richards đã đưa ra quan điểm: Nghe không chỉ để hiểu mà còn để học ngôn ngữ.
Vì nghe có thể cung cấp nhiều đầu vào và người học phải nhận thức đầy đủ các dữ liệu đó. Và nhận thức như thế nào còn tùy thuộc rất nhiều vào quá trình mà người học có thể kết hợp các từ ngữ mới vào các cấu trúc văn phạm để phát triển năng lực giao tiếp. Như vậy có thể nói, từ việc nghe để hiểu sẽ giúp cho người học có thể vận dụng các kĩ năng khác như nghe để nói, nghe để viết một cách có chủ ý hơn. Góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp trong mọi tình huống giao tiếp.
Trong tài liệu “Chương trình phát triển kỹ năng nghe và nói của học sinh lớp Một, 1997” (A Program to Develop the listening and speaking skill of children in a first grade classroom, 1997), Wilson, Julie Anne đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn chung về chương trình phát triển kĩ năng nghe và nói cho HS đầu cấp tiểu học. Các tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của kĩ năng nghe - nói: Những trẻ có thể diễn giải suy nghĩ và ý kiến của mình bằng lời nói sẽ có thể thành công hơn trong học tập. Quan trọng hơn, những trẻ không phát triển khả năng nghe - nói có nguy cơ chịu ảnh hưởng cả đời bởi chính sự thiếu hụt kĩ năng này. Nhận thấy được tầm quan trọng của KNNN, đề tài rất mong muốn xây dựng hệ thống bài tập trong dạy học phân môn Kể chuyện, giúp học sinh có cơ hội được rèn 9 luyện các kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng nghe - nói trong các tiết học kể chuyện.
Thực vậy, nếu học sinh được trải nghiệm trong một môi trường học tập có chú trọng đến việc rèn KNNN thì HS sẽ dễ dàng phát huy được năng lực sử dụng ngôn ngữ của mình và dẫn đến việc phát triển các năng lực khác như: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề. Ca-pi-nôx khẳng định: Động cơ nói năng không phải là hoạt động của lời nói mà là hoạt động thuộc bậc cao hơn - hoạt động giao tiếp. Từ đó, chúng ta có thể nói về hoạt động nói năng nếu như chúng ta xem xét lời nói trong khuôn khổ của hoạt động giao tiếp. Đối với đề tài này, chúng tôi xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích cực, tạo nhiều hoạt động để học sinh có thể tham gia, thảo luận trong các nhóm, có cơ hội được trao đổi ý kiến với nhau.
Hơn hết, đó chính là môi trường để học sinh có thể rèn luyện KNNN cho bản thân mình. Tài liệu “Dạy nói và nghe trong trường tiểu học, 2000” (Teaching Speaking and Listening in the Primary School, 2000), Elizabeth Grugeon, Lyn Dawers, Carol Smith and Lorraine Hubbard đã cung cấp một cách nhìn tổng quan về vai trò và sự phát triển của KNNN trong nhà trường. Đặc biệt, tài liệu còn khẳng định vai trò tổ chức và hướng dẫn, cách đặt câu hỏi và khuyến khích HS nói, cách lắng nghe và chia sẻ của GV đối với HS là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công. Tài liệu cũng đưa ra một số hình thức tổ chức rèn kĩ năng nghe - nói thông qua một số phương tiện hiện đại: máy tính, phim truyền hình… Qua tài liệu này, chúng tôi thiết nghĩ cần đưa vào hệ thống bài tập các hoạt động học tập đa dạng, tạo ra các tình huống dạy học mà ở đó học sinh được khuyến khích nói ra cảm nhận của bản thân về một vấn đề nào đó hay một nhân vật cụ thể trong tác phẩm truyện, được chia sẻ với GV và các bạn trong lớp của mình sẽ giúp cho các em học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
Bài báo “Phát triển ngôn ngữ nói ở trẻ nhỏ” (Young Children's Oral Language Development), Celia Genishi cho rằng: “Sự phát triển của ngôn ngữ nói là một trong những thành quả tự nhiên và ấn tượng nhất của mỗi đứa trẻ”. Trong bài báo 10 cũng nghiên cứu về thành phần ngôn ngữ nói gồm 3 yếu tố: ngữ âm, ngữ nghĩa và cú pháp. Và nhiệm vụ của mỗi giáo viên là giúp duy trì sự phát triển ngôn ngữ tự nhiên bằng cách cung cấp các môi trường đầy đủ để học sinh có cơ hội hình thành kĩ năng nghe - nói trong giờ học kể chuyện Cuốn “Giảng dạy ngôn ngữ nói” (Teaching oral language), Jonh Munro, (Australian Council for Educational Resesrch), 2011, là cuốn sách rất đáng được chú ý. Tác giả đã chỉ ra được tầm quan trọng của KNNN trong quá trình giao tiếp.
Trong cuốn sách này tác giả cũng đưa ra mô hình ICPALER. Trong đó có hai yếu tố chính. Thứ nhất, “Người giao tiếp biết được điều gì” (What each communicator knows), được giải thích rõ ràng và cụ thể thông qua các chữ I-C-P-A-L được hiểu là: Biết được ý tưởng truyền đạt; biết được cách thức để tương tác; biết được mục đích của việc giao tiếp và biết năng lực sử dụng ngôn ngữ như thế nào. Thứ hai, “Hình thức giao tiếp” (The form of the communication) được thể hiện qua hai chữ cái E-R, đó chính là hai hình thức Nghe (thu nhận ý tưởng) - Nói (bày tỏ ý tưởng).
Thông qua hoạt động kể chuyện, thuật lại một tác phẩm văn học giúp học sinh nắm được đại ý của câu chuyện, biết được ý tưởng mà GV cần truyền đạt qua tác phẩm để từ đó định hướng trong việc tương tác với người khác, biết sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, bày tỏ ý tưởng của bản thân và thu nhận ý tưởng của người khác. Một tiết học kể chuyện nếu đảm bảo được các yếu tố này sẽ làm cho học sinh đạt được kết quả cao. Mô hình ICPALER Mục đích của mô hình nhằm trang bị cho GV những nội dung cơ bản cũng như cách kiểm soát kĩ năng nói của HS. Do vậy, trách nhiệm của mỗi giáo viên khi lên kế hoạch dạy học phân môn Kể chuyện để rèn KNNN, phải tập trung vào việc xác lập cho được các ý tưởng giao tiếp trong mỗi bài dạy, mục đích đạt được sau các ý tưởng đó là gì? hay các ý tưởng đó đã góp phần cho học sinh được thể hiện năng lực sử dụng ngôn ngữ hay chưa? Và cách thức tương tác giữa giáo viên và học sinh như thế nào? Bên cạnh đó, việc thu nhận ý tưởng và bày tỏ ý tưởng là hai hoạt động quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập và giao tiếp của học sinh.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng: bốn yếu tố trong “Người giao tiếp biết được điều gì” là các yếu tố cơ bản cần phải đảm bảo để phù hợp với nội dung bài học, trình độ học sinh và năng lực của giáo viên, trong khi đó “Hình thức giao tiếp” là yếu tố quan trọng mà học sinh cần phải đạt được. Do vậy, để rèn luyện KNNN cho học sinh lớp 2 trong dạy học phân môn Kể chuyện, giáo viên cần phải quan tâm đến hình thức tổ chức lớp học để phát huy tối đa việc học sinh có cơ hội được trình bày ý tưởng của mình. Trong một nghiên cứu “Khó khăn trong việc phát triển từ và xử lý ngữ âm” (Developmental word-finding difficulties and phonological processing), A. Sự kết hợp nghe - nói được diễn ra hài hòa và đồng bộ thì việc phát triển ngôn ngữ sẽ ngày càng hoàn thiện hơn.
Quyển sách “Khó khăn về ngôn ngữ và lời nói của trẻ em” (Children's Speech and Literacy Difficulties), A. Mô hình cấu trúc cơ bản của hệ thống xử lý lời thoại Như vậy, theo mô hình này cho chúng ta thấy giữa kĩ năng nghe và nói có mối quan hệ tương quan lẫn nhau. Người nghe cần phải có thính lực sắc bén để tiếp nhận rõ các thông tin, cụ thể là đi từ việc nhận diện các âm vị cấu thành, sau đó lưu trữ ở não bộ. Tại đây, bằng vốn hiểu biết về ngôn ngữ, người nghe có thể giải mã và hiểu được những gì họ nghe thấy.
Từ đó sẽ lên kế hoạch vận động thể hiện bằng sự phát âm tạo ra lời nói. Tiến trình này diễn ra khép kín và vận động theo quy luật chiều kim đồng hồ. Do vậy, trong các tiết dạy kể chuyện, GV phải tổ chức làm sao để có thể đánh giá được ngôn ngữ hiểu và ngôn ngữ diễn đạt của học sinh. Bên cạnh 13 đó, xem việc rèn luyện KNNN qua dạy học Kể chuyện như là một hoạt động giao tiếp cần diễn ra xuyên suốt trong tiết học, học sinh có cơ hội tương tác với các bạn trong lớp trao đổi với nhau về những hiểu biết của bản thân đối với văn bản truyện, tương tác với thầy cô bằng cách kể lại truyện theo cảm nhận của mình đối với văn bản truyện.
Cách nhìn nhận hoạt động kể chuyện như trên góp phần phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ của các em học sinh. Từ những nghiên cứu trên đã giúp cho chúng tôi có cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn. Để từ đó định hướng cho đề tài của chúng tôi trong việc xây dựng một hệ thống bài tập để rèn luyện KNNN cho học sinh lớp 2 qua dạy học phân môn Kể chuyện.