Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Xây dựng hệ thống bài tập trong môn Đạo đức nhằm phát triển năng lực điều chỉnh hành vi cho học sinh tiểu học Chương 3. Thử nghiệm sư phạm 4 NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục Đạo đức cho học sinh tiểu học ở một số nước trên thế giới Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành “đạo lớn”. Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 - 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết quy định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức. Aristoste (384 -322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là GDĐĐ cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người. Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,.
5 Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể. Các nhà nghiên cứu trên thế giới quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung rèn luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác.
Tại Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức ở Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực. Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm và đã thống nhất đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị: 1/ Nhóm giá trị liên quan đến quyền con người; 2/ Nhóm giá trị liên quan đến dân chủ; 3/ Nhóm giá trị liên quan đến hợp tác và hòa bình; 4/ Nhóm các giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường; 5/ Nhóm giá trị liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa; 6/ Nhóm các giá trị liên quan đến bản thân và những người khác; 7/ Nhóm các giá trị liên quan đến tính dân tộc; 8/ Nhóm liên quan đến tâm linh 1. Những nghiên cứu giáo dục Đạo đức cho học sinh tiểu học ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngành giáo dục cũng nghiên cứu việc giáo dục đạo đức của người Việt Nam. Điều này được phản ánh trong tác phẩm "Đạo đức học" của Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thơ và các tác phẩm khác; tác phẩm "Đạo đức hiếu sinh- nhân cách của người Việt Nam" của Fan Kezhong; Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Văn Phúc "Đạo đức trong các vấn đề giáo dục của nền kinh tế thị trường của đất nước tôi"; "Phương pháp giáo dục trẻ nghịch ngợm "của Phạm Công Sơn - Tô Quốc Tuấn (1997),.
Với định vị chiến lược xây dựng đạo đức con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (HĐH) của Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu 6 đã được thực hiện theo hướng này, như “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa”. Yuwen (1996); Ủy ban chăm sóc trẻ em đã thực hiện một dự án nghiên cứu quốc gia "Hiện trạng và vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" vào năm 1999-2000. Tất cả những nghiên cứu này đều nói về chức năng và vai trò rất quan trọng của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em. Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học “Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh tiểu học tại Thành phố Hồ Chí Minh” (2016) đã chỉ ra những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng giáo dục thông qua nghiên cứu.
Đó là: nhóm các biện pháp nhận thức giáo dục đại học, các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục đại học và các biện pháp rèn luyện hành vi đạo đức. Có như vậy, giáo viên mới lựa chọn và vận dụng các phương pháp phù hợp theo tình hình thực tế của trường, lớp để nâng cao tác dụng giáo dục. Sáng kiến kinh nghiệm “Một vài kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh tiểu học qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” (2011) đã nêu ra những điểm cần lưu ý để GDĐĐ qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp đạt hiệu quả cao như: hiểu và có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng được kế hoạch hoạt động cụ thể, làm tốt công tác tham mưu với các đơn vị liên quan, tạo điều kiện để học sinh phát huy tính khả năng, đảm bảo thông tin hai chiều và công tác tổ chức khen thưởng kịp thời. Nhận xét chung Nhìn chung, các đề tài và công trình nghiên cứu trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong GDĐĐ, như phân tích khái niệm và đặc điểm của giáo dục phổ thông, xây dựng chương trình giáo dục có nội dung và chủ đề phù hợp để dạy học với HS, hình thành các năng lực cần thiết cho giáo viên khi tổ chức dạy học để đạt hiệu quả trong trường tiểu học.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu hình thành hệ thống bài tập nhằm phát triển kĩ năng của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc biệt, việc nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập môn Đạo đức nhằm hình thành và phát triển khả năng điều chỉnh hành vi của học sinh vẫn chưa được nghiên cứu nào đề cập đến. Vì chưa có lý thuyết, cuốn sách hay bài báo nghiên cứu nào được xuất bản nên tôi muốn thực hiện các nghiên cứu khoa học, bài bản và có hệ thống hơn về sự hình 7 thành và phát triển khả năng hình thành và phát triển năng lực điều chỉnh hành vi qua hệ thống bài tập môn Đạo đức. Khái quát môn Đạo đức ở trƣờng tiểu học 1.
Mục tiêu và yêu cầu cần đạt 1. Mục tiêu chung Chương trình môn Đạo đức góp phần hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm;các năng lực của người công dân Việt Nam, đặc biệt là năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. Mục tiêu cấp tiểu học Mục tiêu của chương trình môn Đạo đức ở cấp Tiểu học bao gồm 2 mục tiêu chính: Thứ nhất: Bước đầu hình thành, phát triển ở học sinh những hiểu biết ban đầu về chuẩn mực hành vi đạo đức, pháp luật và sự cần thiết thực hiện theo các chuẩn mực đó trong quan hệ với bản thân và người khác, với công việc, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; thái độ tự trọng, tự tin; những tình cảm và hành vi tích cực: yêu gia đình, quê hương, đất nước; yêu thương, tôn trọng con người; đồng tình với cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu; chăm học, chăm làm; trung thực; có trách nhiệm với thái độ, hành vi của bản thân. Thứ hai: Giúp học sinh bước đầu nhận biết và điều chỉnh được cảm xúc, thái độ, hành vi của bản thân; biết quan sát, tìm hiểu về gia đình, quê hương, đất nước và về các hành vi ứng xử; biết lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch cá nhân,hình thành thói quen, nền nếp cơ bản, cần thiết trong học tập, sinh hoạt.
Yêu cầu cần đạt Yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung Môn Đạo đức góp phần hình thành và phát triển phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể. 8 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù Các năng lực được hình thành, phát triển trong môn Đạo đức (năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực phát triển bản thân, năng lực tìm hiểu và tham gia hoạt động kinh tế - xã hội) là biểu hiện đặc thù của các năng lực chung và năng lực khoa học đã nêu trong Chương trình tổng thể. Yêu cầu cần đạt về các năng lực này đối với cấp Tiểu học như sau: Bảng 1. Các biểu hiện cụ thể của năng lực đặc thù môn Đạo đức Năng lực Biểu hiện 1.
Năng lực điều chỉnh hành vi 1. Nhận Nhận biết và hiểu được sự cần thiết của việc thực hiện một số chuẩn thức chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật thường gặp. mực hành vi Nhận thức, quản lí, tự bảo vệ bản thân và duy trì mối quan hệ hòa hợp với bạn bè. Nhận biết được sự cần thiết của giao tiếp và hợp tác; trách nhiệm của bản thân và của nhóm nhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân và giải quyết các vấn đề học tập, sinh hoạt hàng ngày.