Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ xã hội học "Hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (Nghiên cứu trường hợp Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Vũ Hào Quang, bảo vệ năm 2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (Mã số chuyên ngành: 62 31 30 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo văn bản luận án, trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, thông tin và tri thức khoa học lý luận giữ vai trò là nguồn lực quan trọng. Báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu, tiếng nói của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và diễn đàn của nhân dân. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trung, cao cấp và nghiên cứu khoa học lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Văn bản chỉ ra rằng Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã thẳng thắn đánh giá công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu, công tác dự báo còn yếu, năng lực của một bộ phận cán bộ còn bất cập. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải cải tiến mạnh mẽ chương trình giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại Học viện. Hệ thống tạp chí, bản tin của Học viện là nơi cung cấp tư liệu tri thức lý luận và thực tiễn trực tiếp cho công tác này. Tuy nhiên, trước khi đề tài được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hành vi tìm kiếm thông tin của độc giả cũng như đánh giá thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin của hệ thống ấn phẩm báo chí nội bộ này để làm căn cứ cho việc đổi mới, sắp xếp tổ chức và hoạch định chiến lược phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích tổng quát: Khảo sát hành vi tìm kiếm thông tin từ các tạp chí, bản tin của độc giả trong hệ thống Học viện; đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học tập; xác định nguyên nhân thành công và hạn chế; từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tạp chí, bản tin trong toàn Học viện.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về báo chí cách mạng; cơ sở lý thuyết xã hội học và truyền thông vận dụng; các khái niệm công cụ; chức năng, nhiệm vụ của Học viện và hệ thống ấn phẩm.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá hành vi tìm kiếm thông tin từ các tạp chí, bản tin của từng nhóm đối tượng độc giả.
- Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin; rút ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các khuyến nghị, giải pháp cụ thể.
Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết nghiên cứu
Văn bản xác định 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Các nhóm độc giả có nhu cầu thông tin gì phục vụ cho công việc của mình? Các tạp chí, bản tin của Học viện đã đáp ứng những nhu cầu thông tin đó như thế nào?
- Câu hỏi 2: Các đối tượng độc giả trong hệ thống Học viện tìm kiếm những nội dung thông tin gì và trong các tạp chí, bản tin nào của Học viện?
- Câu hỏi 3: Khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của các tạp chí, bản tin trong Học viện như thế nào? Cần làm gì để nâng cao chất lượng các tạp chí, bản tin để đáp ứng tốt nhu cầu của độc giả?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 2 giả thuyết:
- Giả thuyết 1: Các độc giả trong Học viện có nhu cầu cơ bản giống nhau về nội dung thông tin, nhưng rất khác nhau về mức độ "rộng", "hẹp", "nông", "sâu" của thông tin, do đó hành vi tìm kiếm thông tin phục vụ công việc của mình từ các tạp chí, bản tin của họ cũng khác nhau.
- Giả thuyết 2: Chỉ một số ít tạp chí, bản tin đáp ứng tốt nhu cầu thông tin của độc giả; các tạp chí, bản tin còn lại chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của độc giả. Nhìn chung, các tạp chí đáp ứng khá tốt nhu cầu thông tin của độc giả, trong khi đó, các bản tin chưa đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng độc giả trong Học viện.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Khách thể nghiên cứu: Nhóm độc giả gồm 3 nhóm chủ yếu: (1) Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; (2) Cán bộ lãnh đạo, quản lý; (3) Học viên các hệ lớp. Luận án loại trừ khối cán bộ hành chính, hậu cần, phục vụ (tài vụ, văn phòng, quản trị, y tế, đội xe, nhà ăn).
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 6 đơn vị đại diện 3 miền Bắc, Trung, Nam:
- Trung tâm Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội).
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội).
- Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I (Hà Nội).
- Học viện Chính trị - Hành chính khu vực II (Thành phố Hồ Chí Minh).
- Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III (Đà Nẵng).
- Học viện Chính trị - Hành chính khu vực IV (Cần Thơ).
- Phạm vi thời gian: Các cuộc điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu tiến hành trong các năm 2009, 2010; nội dung các bài viết trên tạp chí, bản tin được khảo sát trong 5 năm (giai đoạn 2005 - 2010).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo 4 nhóm chủ đề chính:
| Nhóm chủ đề nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu được điểm lại |
Luận điểm chính được kế thừa |
| Vai trò của thông tin và tri thức |
Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực; Helga Nowotny, Peter Scott, Michael Gibbons (2009), Tư duy lại khoa học. Tri thức và công chúng trong kỷ nguyên bất định; Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: từ lý luận đến thực tiễn; Kolin K. (2002), Nền văn minh thông tin: tương lai hay thực tại; Michael Schudson (2003), Sức mạnh của tin tức truyền thông. |
Khẳng định thông tin và tri thức giữ vị trí quyết định trong thời đại kinh tế tri thức; lợi thế thuộc về chủ thể có năng lực tổ chức, khai thác hiệu quả nguồn thông tin. |
| Báo chí cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng |
Tạ Ngọc Tấn (2003); Hà Minh Đức (2010); Ngô Kim Ngân, Lê Văn Toan, Nguyễn Thị Phương Thảo (2010); Trương Tấn Sang (2010); Đào Duy Quát, Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông (2010); Phan Quang (2002); Chu Thái Thành (2000); Lê Thanh Bình (2005); Đỗ Chí Nghĩa (2009); Ban Tuyên giáo Trung ương (2007); Nguyễn Viết Thảo (2007); Nguyễn Sỹ Trung (2009); Nguyễn Vũ Tiến (2005); Phan Thanh Bình (2004); Trần Quang Nhiếp (2002); Vũ Văn Phúc (2011); Đỗ Quý Doãn (2011); Nguyễn Thế Kỷ (2011); Tạ Ngọc Tấn (1999, 2004); Jean-Luc Martin-Lagardette (2003); Claudia Must (2003); Nguyễn Văn Dững (2006). |
Khẳng định báo chí cách mạng là vũ khí tư tưởng, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng; làm rõ các chuẩn mực nghiệp vụ báo chí, biên tập và truyền thông đại chúng. |
| Lý thuyết và thực nghiệm xã hội học |
Endruweit G. (1999); Vũ Hào Quang (1997, 2004); Lê Ngọc Hùng (2004); Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001); Nguyễn Đình Tấn, Lê Ngọc Hùng (2004); Nguyễn Đình Tấn (2005); Trần Hữu Quang (2006); Mai Quỳnh Nam (2001, 2006); McCombs (2001); Phạm Phương Trà (2011); Trần Minh Chiến (2011); Vũ Đình Hòe (2000). |
Hệ thống hóa phương pháp điều tra xã hội học, chọn mẫu, phân tích định tính - định lượng; các lý thuyết xã hội học về truyền thông, dư luận xã hội và hành động xã hội. |
| Hoạt động nghiên cứu và đào tạo của Học viện |
Tô Huy Rứa (2004); Hà Lan (2004); Vũ Đình Hòe (2004); Trần Thị Anh Đào (2010). |
Làm rõ chức năng đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý và nghiên cứu lý luận chính trị của Học viện; khẳng định thông tin lý luận là điều kiện bảo đảm chất lượng hoạt động. |
Khoảng trống luận án giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã làm rõ vai trò của báo chí hoặc nghiên cứu xã hội học truyền thông nói chung, nhưng chưa có đề tài nào khảo sát thực nghiệm toàn diện hành vi tìm kiếm thông tin của các nhóm độc giả đặc thù trong hệ thống trường Đảng, cũng như phân tích mức độ đáp ứng của toàn bộ 16 ấn phẩm tạp chí, bản tin chuyên ngành thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án kết hợp các khung lý thuyết xã hội học kinh điển và hiện đại cùng lý thuyết truyền thông:
- Lý thuyết Cấu trúc – Chức năng:
- Émile Durkheim & Talcott Parsons: Xem Học viện là một hệ thống xã hội; sự thay đổi ở một bộ phận (như mở mới các hệ lớp cao cấp lý luận chính trị - hành chính) đòi hỏi các bộ phận thông tin, tạp chí, bản tin phải biến đổi cơ cấu, nội dung tương ứng để duy trì trạng thái cân bằng.
- Wilbert E. Moore (Cấu trúc chức năng phân tầng): Chức năng xã hội gắn liền với cấu trúc xã hội; ấn phẩm nào đáp ứng tốt nhu cầu độc giả sẽ được duy trì và tăng số lượng, ngược lại nếu không đáp ứng sẽ bị loại bỏ khỏi cấu trúc hệ thống.
- Robert K. Merton: Vận dụng khái niệm phản chức năng (dysfunction) để lý giải các bất cập (năng lực biên tập viên hạn chế, tình trạng bài viết thiên về tính điểm công trình khoa học hoặc thương mại hóa làm chệch mục tiêu); phân biệt chức năng công khai (manifest function) và chức năng tiềm ẩn (latent function); vận dụng thuyết lệch chuẩn (anomie) giải thích sự không tương thích giữa nhu cầu tìm tin và phương tiện cấp tin.
- Nhóm lý thuyết Hành vi và Hành động xã hội:
- Lý thuyết hành vi (Moreno, Hopmans): Hành vi tìm kiếm thông tin là phản ứng trước các kích thích từ nhu cầu công việc; người dùng tin có xu hướng lựa chọn nguồn tin tối ưu.
- Thuyết hành động xã hội (Max Weber): Phân tích hành vi tìm tin theo 4 loại hành động: hành động cảm xúc, hành động truyền thống, hành động hợp lý giá trị và hành động duy lý – công cụ.
- Thuyết trao đổi và lựa chọn duy lý (George Homans): Xem xét hành vi tìm tin theo định đề giá trị và định đề chi phí – phần thưởng; độc giả thường xuyên tìm đọc những ấn phẩm đem lại giá trị thông tin cao nhất cho công việc.
- Lý thuyết về Công dụng và Sự thỏa mãn (Uses and Gratifications): Dựa trên quan điểm của Herta Herzog (1944), xem độc giả là chủ thể chủ động lựa chọn phương tiện truyền thông để thỏa mãn nhu cầu tri thức chuyên môn.
- Lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Abraham Maslow): Hành vi tìm tin của cán bộ nghiên cứu, giảng viên, học viên trong Học viện chủ yếu hướng tới thỏa mãn nhu cầu bậc 4 (nhu cầu được tôn trọng, thừa nhận vị thế học thuật) và bậc 5 (nhu cầu tự hoàn thiện bản thân).
Khái niệm công cụ: Luận án định nghĩa tường minh các khái niệm: Thông tin, Thông tin khoa học, Thông tin lý luận, Hành động xã hội (theo Max Weber và từ điển Blackwell), Hành vi (theo Đại từ điển tiếng Việt, Đại từ điển Hán ngữ và Từ điển Tâm lý học).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành xã hội học, thông tin học và truyền thông, kết hợp cả định tính và định lượng:
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
và phân tích nội dung các ấn phẩm báo chí, chương trình đào tạo, đề tài khoa học giai đoạn 2005-2010.
Danh mục 16 ấn phẩm có giấy phép xuất bản được khảo sát:
- 6 Tạp chí: (1) Tạp chí Lý luận chính trị, (2) Tạp chí Lịch sử Đảng, (3) Tạp chí Giáo dục lý luận, (4) Tạp chí Khoa học chính trị, (5) Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6) Tạp chí Lý luận Chính trị & Truyền thông.
- 10 Bản tin: (1) Bản tin Thông tin những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo, (2) Bản tin Những vấn đề chính trị - xã hội, (3) Bản tin Thông tin Những vấn đề Triết học và Đời sống, (4) Bản tin Thông tin Những vấn đề Kinh tế chính trị học, (5) Bản tin Thông tin Nhà nước và Pháp luật, (6) Bản tin Thông tin Chủ nghĩa xã hội – lý luận và thực tiễn, (7) Bản tin Thông tin Chính trị học, (8) Bản tin Thông tin Văn hóa và Phát triển, (9) Bản tin Thông tin Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo, quản lý, (10) Bản tin Thông tin Nghiên cứu quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1 hệ thống hóa nền tảng tư tưởng, khung lý thuyết và bối cảnh thực tiễn của đối tượng nghiên cứu:
- Trình bày quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về báo chí vô sản: Báo chí là người tuyên truyền, cổ động và tổ chức tập thể; là cơ quan ngôn luận thống nhất của Đảng; phản ánh tính đảng, tính chiến đấu và tính chân thật. Ăngghen nhấn mạnh tạp chí có ưu thế cho phép xem xét sự kiện trên bình diện bao quát, nghiên cứu tỉ mỉ, khoa học các quan hệ kinh tế - chính trị.
- Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng: Cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng, ngòi bút là vũ khí sắc bén; khi viết phải trả lời rõ: "Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?".
- Nêu rõ các quan điểm, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Chỉ thị số 22-CT/TW) về công tác báo chí, xuất bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phân tích chức năng, nhiệm vụ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; cơ cấu và tôn chỉ 16 tạp chí, bản tin trực thuộc; phân loại đặc điểm xã hội - nhân khẩu học của 3 nhóm độc giả mục tiêu (lãnh đạo/quản lý, nghiên cứu/giảng dạy, học viên).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC THÔNG TIN CỦA ĐỘC GIẢ CÁC TẠP CHÍ, BẢN TIN TRONG HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Chương 2 trình bày các kết quả điều tra thực nghiệm về nhu cầu và hành vi tìm kiếm thông tin của độc giả thông qua xử lý dữ liệu từ 840 bảng hỏi và 100 phỏng vấn sâu:
- Nhu cầu thông tin: Phân tích nhu cầu của độc giả đối với 9 nhóm nội dung thông tin chuyên biệt phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập; khảo sát nhận định của độc giả về các hình thức thông tin quan trọng theo tương quan nghề nghiệp, giới tính và độ tuổi.
- Hành vi khai thác thông tin từ các tạp chí:
- Đánh giá mức độ thường xuyên khai thác tạp chí của 3 nhóm độc giả. Nhóm cán bộ nghiên cứu, giảng dạy có tần suất đọc và tìm kiếm thông tin cao nhất và chuyên sâu nhất.
- Phân tích chi tiết các nội dung thông tin được khai thác thường xuyên trên 6 tạp chí (Tạp chí Lý luận chính trị, Lịch sử Đảng, Khoa học chính trị, Giáo dục lý luận, Sinh hoạt lý luận, Lý luận Chính trị & Truyền thông).
- Hành vi khai thác thông tin từ các bản tin:
- Đánh giá mức độ thường xuyên khai thác 10 bản tin chuyên đề. Kết quả cho thấy tỷ lệ độc giả tiếp cận và thường xuyên đọc các bản tin thấp hơn đáng kể so với tạp chí.
- Phân tích nội dung được tìm kiếm trong từng bản tin cụ thể (Triết học và Đời sống, Kinh tế chính trị học, Nhà nước và Pháp luật, Chính trị học, Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo...).
CHƯƠNG 3: KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU THÔNG TIN CỦA CÁC TẠP CHÍ, BẢN TIN TRONG HỆ THỐNG HỌC VIỆN
Chương 3 tập trung đánh giá mức độ thỏa mãn nhu cầu độc giả và phân tích nguyên nhân của thực trạng:
- Mức độ đáp ứng theo 3 mảng nội dung chính:
- Mảng thông tin lý luận về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước: Được đánh giá đáp ứng tốt nhất, giữ vững định hướng chính trị.
- Mảng thông tin tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận: Có sự phân hóa; các bài viết phân tích thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam được bạn đọc quan tâm lớn nhưng mức độ đáp ứng ở một số bản tin còn hạn chế về chiều sâu.
- Mảng thông tin lý luận và thực tiễn chính trị nước ngoài, thời sự quốc tế, toàn cầu hóa: Nhu cầu của độc giả rất cao nhằm phục vụ hội nhập quốc tế, nhưng nguồn bài viết và tính cập nhật trên các ấn phẩm còn chưa đồng đều.
- Đánh giá cơ cấu và chuyên mục: Phân tích sự hợp lý và hiện tượng trùng lặp, "chồng lấn" về tôn chỉ, phạm vi đề tài giữa một số tạp chí khu vực và các bản tin chuyên ngành.
- Thành công, hạn chế và nguyên nhân:
- Thành công: Đảm bảo định hướng tư tưởng của Đảng, cung cấp tư liệu học thuật quan trọng cho công tác đào tạo, nghiên cứu.
- Hạn chế: Một số ấn phẩm phát hành chậm, nội dung thông tin mang tính kinh viện, thiếu tính sinh động; dung lượng dành cho các bài tổng kết thực tiễn còn ít; sự tham gia của bạn đọc chưa rộng rãi.
- Nguyên nhân: Do tổ chức bộ máy biên tập, cơ chế cấp phát tài chính, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ báo chí của đội ngũ biên tập viên, cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin tạo ra áp lực cạnh tranh phương thức tiếp cận tin tức.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Vận dụng thành công cách tiếp cận liên ngành giữa Xã hội học, Thông tin học và Truyền thông đại chúng vào việc nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của nhóm độc giả đặc thù trong hệ thống các cơ sở đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị của Đảng.
- Đóng góp vào việc vận dụng và kiểm chứng các lý thuyết xã hội học hiện đại (thuyết cấu trúc – chức năng của Merton, lý thuyết hành vi hợp lý, lý thuyết hành động xã hội của Weber, lý thuyết trao đổi của Homans, lý thuyết công dụng và sự thỏa mãn) trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội học báo chí và bạn đọc tại Việt Nam.
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện đầu tiên về nhu cầu thông tin lý luận chính trị và hành vi sử dụng báo chí nội bộ ngành tại Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm gồm 840 mẫu khảo sát định lượng và 100 trường hợp phỏng vấn sâu tại 6 cơ sở đào tạo từ Bắc đến Nam, phản ánh khách quan thực trạng đọc và khai thác 16 ấn phẩm báo chí của Học viện.
- Làm rõ hiện tượng chồng chéo chức năng, phân tán nguồn lực giữa các tạp chí và bản tin; chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về hiệu quả khai thác giữa hệ thống tạp chí (khai thác tốt) và hệ thống bản tin (khai thác còn hạn chế).
- Đề xuất các nhóm giải pháp có căn cứ khoa học cho Ban Giám đốc Học viện và Ban Biên tập các tạp chí, bản tin:
- Quy hoạch, tổ chức lại hệ thống ấn phẩm: Rà soát, tái cơ cấu hoặc sáp nhập các bản tin có nội dung chồng chéo; xác định rõ phân khúc độc giả cho từng ấn phẩm.
- Đổi mới nội dung và kết cấu chuyên mục: Tăng cường bài viết tổng kết thực tiễn, phân tích chính sách đương đại và nghiên cứu lý luận chuyên sâu; hạn chế các bài viết trùng lặp, hình thức.
- Nâng cao năng lực đội ngũ biên tập: Bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí hiện đại, trình độ ngoại ngữ và kiến thức chuyên ngành lý luận chính trị cho biên tập viên.
- Cải tiến phương thức phát hành và ứng dụng công nghệ: Kết hợp xuất bản bản in truyền thống với các xuất bản phẩm điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên kết với Thư viện điện tử Học viện để bạn đọc dễ dàng tiếp cận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi luận án, nghiên cứu chỉ tập trung vào 3 nhóm độc giả chính (cán bộ lãnh đạo/quản lý, giảng viên/nghiên cứu viên, học viên), chưa bao quát nhóm cán bộ hành chính, phục vụ. Khảo sát chỉ giới hạn trong 16 tạp chí, bản tin có giấy phép xuất bản của Bộ Văn hóa Thông tin, không khảo sát các bản tin thông tin nội bộ không có giấy phép xuất bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của các đối tượng độc giả ngoài hệ thống Học viện (cán bộ lãnh đạo địa phương, các trường chính trị tỉnh, thành phố).
- Nghiên cứu sự chuyển dịch hành vi tìm kiếm thông tin từ báo chí in truyền thống sang các cơ sở dữ liệu số, tạp chí điện tử và mạng truyền thông đa phương tiện trong hệ thống giáo dục lý luận chính trị.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Cơ quan quản lý và lãnh đạo Học viện: Cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược quy hoạch mạng lưới báo chí, tạp chí, bản tin, tối ưu hóa nguồn lực tài chính và nhân sự biên tập.
- Ban biên tập các tạp chí, bản tin khoa học xã hội: Tham khảo căn cứ thực nghiệm để đổi mới kết cấu chuyên mục, nâng cao chất lượng bài viết và cải thiện phương thức tương tác với độc giả.
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Xã hội học và Báo chí – Truyền thông: Tham khảo khung lý thuyết xã hội học báo chí, công cụ bảng hỏi Anket, quy trình xử lý dữ liệu liên ngành và phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu tạp chí và bản tin, dựa trên tiêu chí nào?
Luận án khảo sát tổng cộng 16 ấn phẩm (gồm 6 tạp chí và 10 bản tin) thuộc hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Tiêu chí lựa chọn là các ấn phẩm đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp giấy phép xuất bản, chuyên sâu về lý luận chính trị hoặc chuyên ngành khoa học xã hội. Các ấn phẩm mang tính quản lý hành chính nội bộ (Thông tin hoạt động nội bộ, Thông tin công tác Đảng...) không thuộc diện khảo sát.
2. Kích thước mẫu điều tra xã hội học và phương pháp chọn mẫu trong luận án được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản từ danh sách 3 nhóm độc giả với bước nhảy $K = 5$ ($K = N/n$). Tổng số phiếu phát ra là 859 phiếu, sau khi làm sạch thu được 840 phiếu hợp lệ đưa vào xử lý dữ liệu. Bên cạnh đó, luận án thực hiện 100 cuộc phỏng vấn sâu chọn lọc tại 6 cơ sở ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
3. Khách thể nghiên cứu của luận án gồm những đối tượng nào và loại trừ đối tượng nào?
Khách thể nghiên cứu gồm 3 nhóm độc giả chính: (1) Cán bộ lãnh đạo, quản lý; (2) Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy; (3) Học viên các hệ lớp tại Học viện. Luận án chủ động loại trừ đội ngũ cán bộ thuộc khối hành chính, hậu cần, phục vụ (tài vụ, văn phòng, quản trị, y tế, đội xe, nhà ăn) do không trực tiếp sử dụng tạp chí, bản tin lý luận phục vụ nhiệm vụ chuyên môn chính.
4. Hai giả thuyết nghiên cứu chính của luận án là gì?
- Giả thuyết 1: Độc giả có nhu cầu cơ bản giống nhau về nội dung thông tin, nhưng khác biệt về mức độ rộng/hẹp, nông/sâu, dẫn đến hành vi tìm kiếm thông tin khác nhau.
- Giả thuyết 2: Các tạp chí nhìn chung đáp ứng khá tốt nhu cầu thông tin của độc giả, trong khi các bản tin còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dùng tin.
5. Luận án vận dụng những lý thuyết xã hội học và truyền thông cụ thể nào?
Luận án vận dụng: Thuyết Cấu trúc – Chức năng (Durkheim, Parsons, Moore, Merton với khái niệm phản chức năng và lệch chuẩn anomie); Thuyết Hành vi và Hành động xã hội (Moreno, Hopmans, Weber với 4 mẫu hành động xã hội, Homans với thuyết trao đổi và lựa chọn duy lý); Thuyết Công dụng và Sự thỏa mãn (Herta Herzog); Thuyết Thang bậc nhu cầu (Abraham Maslow, tập trung bậc 4 và bậc 5).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo là công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm chuyên sâu về hành vi tìm kiếm thông tin của độc giả các tạp chí, bản tin trong hệ thống Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mác-xít với các lý thuyết xã hội học hiện đại và hệ thống phương pháp điều tra định lượng (840 phiếu Anket), định tính (100 phỏng vấn sâu), luận án đã làm rõ thực trạng nhu cầu, thói quen khai thác thông tin và mức độ đáp ứng của 16 ấn phẩm báo chí chuyên ngành. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những ưu điểm nổi bật về định hướng chính trị - tư tưởng cũng như những hạn chế về sự chồng lấn chuyên mục và chất lượng chưa đồng đều giữa tạp chí và bản tin. Những kiến nghị và giải pháp do luận án đề xuất cung cấp căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động thông tin báo chí trong toàn hệ thống trường Đảng tại Việt Nam.