CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT ÁP DỤNG CHO SẢN PHẨM CƠ KHÍ CHÍNH XÁC NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 1. Khái quát về thị trường cơ khí chính xác của Nhật Bản 1. Thị trường Nhật Bản Bảng 1.1: Các chỉ số kinh tế của Nhật Bản trong giai đoạn 2013 – 2017 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Tồng sản phẩm quốc nội (GDP) 5,156 4,850 4,395 4,949 4,872 (Đơn vị: Tỷ USD) Tỷ lệ tăng trưởng GDP (được tính so với năm gốc là 2 0,4 1,4 0,9 1,7 2010) (Đơn vị: %) Tổng thu nhập quốc nội (GNI, PPP) 5,134 5,166 5,334 5,413 5,521 (Đơn vị: Tỷ USD) Thu nhập bình quân đầu người 40,280 40,590 41,990 42,630 43,540 (Đơn vị: USD) Tổng dân số 127.785 (Đơn vị: Triệu người) Tỷ lệ thất nghiệp 4.8 (Đơn vị: %) Tỷ lệ lạm phát -0.2 (Đơn vị: %) Kim ngạch xuất khẩu 820 850 773 798 860 (Đơn vị: Tỷ USD) Kim ngạch nhập khẩu 940 970 791 750 815 (Đơn vị: Tỷ USD) (Nguồn: Ngân hàng thế giới) Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới trong đó khu vực dịch vụ đóng góp hơn 70% GDP của cả nước gồm dịch vụ bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bất 12 động sản và các hoạt động chuyên môn, khoa học và kỹ thuật là trụ cột chính về dịch vụ. Với tầm quan trọng ngày càng giảm của các ngành nông nghiệp và khai khoáng (đóng góp ít hơn 1% vào GDP), thì ngành sản xuất và xây dựng chiếm phần còn lại của GDP.
Thiết bị vận tải, thực phẩm và đồ uống là những ngành sản xuất chính của Nhật Bản. Nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng 0.9% vào năm 2016, giữ nguyên tốc độ của năm 2015. Tình hình kinh tế chậm chạp chủ yếu vì chi tiêu của người tiêu dùng thấp do sự gia tăng của thuế doanh thu tăng từ 5% lên 8% trong tháng 4 năm 2014 và sự suy giảm trong xuất khẩu do đồng Yên tăng giá trong thời điểm Brexit và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Trong cuộc điều tra hàng quý do Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) công bố vào tháng 12 năm 2016, chỉ số khuếch tán cho các nhà sản xuất lớn đứng ở mức 10, tăng 4 điểm so với tháng 9 năm 2016.
Xuất khẩu của Nhật Bản tăng 3.1% lên 798 tỷ đô la Mỹ vào năm 2016. Nếu xét theo đồng đô la Mỹ, xuất khẩu của Nhật Bản đã tăng trung bình hàng năm khoảng 10% phản ánh sự tăng giá mạnh của đồng Yên; trong khi xét theo đồng Yên thì kim ngạch xuất khẩu lại giảm. Ngược lại, nhập khẩu đã giảm 6,5% xuống còn 750 tỷ USD, dẫn đến thặng dư thương mại khoảng 48 tỷ USD. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản trong năm 2016, giảm 7.
Xuất khẩu sang Trung Quốc, thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Nhật Bản, ghi nhận mức giảm hàng năm là 6. Tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản trong tháng 11/2017 đã giảm xuống mức thấp nhất kế từ tháng 11/1993. Đây là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế lớn thứ ba thế giới vẫn duy trì được đà tăng trưởng ổn định, khi nước này đã tăng trưởng 7 quý lien tiếp, cũng là chuỗi tăng trưởng dài nhất trong 16 năm qua. Cùng với việc giảm tỷ lệ thất nghiệp, chính phủ Nhật Bản cũng thúc giục các công ty lớn tăng lương cho người lao động.
Chính sách này được kỳ vọng có thể thúc đẩy thị trường tiêu dung nội địa và duy trì tăng trưởng của kinh tế nước này. 13 Doanh thu bán lẻ tăng nhẹ 0,6% vào năm 2016 sau khi tăng 0,4% vào năm 2015. Tuy nhiên, chi tiêu hộ gia đình đã giảm 0,3% so, ghi nhận sự sụt giảm mười năm liên và phản ánh nhu cầu trong nước thấp. Do sự tăng trưởng kinh tế chậm chạp, chính phủ Nhật Bản đã thông báo hoãn tăng thuế tiêu dùng giai đoạn hai vào năm 2019.
Du lịch trong nước là một trong những điểm sáng cho nền kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây, hỗ trợ ngành bán lẻ, khách sạn và nhà hàng trong nước phát triển. Năm 2016, tổng số khách đến Nhật Bản đạt 24 triệu người, tăng 21,8% sau khi tăng trưởng ấn tượng 47,1% vào năm 2015. Năm 2016, hơn 6 triệu khách du lịch Nhật Bản đến từ Trung Quốc, tăng 27,6% so với năm trước. Tiếp theo là khách du lịch đến từ Hàn Quốc (5,1 triệu), Đài Loan (4,2 triệu) và Hồng Kông (1,8 triệu).
Hoa Kỳ đứng thứ năm về số lượng khách du lịch đến Nhật Bản, tăng 20,3% lên 1,2 triệu vào năm 2016. Đặc điểm chính của ngành công nghiệp cơ khí chính xác của Nhật Bản 1. Chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ nhưng có tính cạnh tranh cao Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cơ khi chính xác tại Nhật Bản chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có những doanh nghiệp rất nhỏ chỉ gồm 4 người ( gọi tắt là VSE – Very small enterprise). Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nền tảng kinh tế cơ bản của chuỗi giá trị công nghiệp và là trụ cột của nền kinh tế Nhật Bản.
Ở Nhật, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 99.2% trên tổng số các doanh nghiệp (Khoảng 5.7 triệu doanh nghiệp) cung cấp việc làm cho 70-80% lực lượng lao động, và 60% số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các doanh nghiệp lớn trong công nghiệp chế tạo. Vào tháng 12 năm 2006, Bộ Thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) trong báo cáo về các doanh nghiệp đã chỉ ra rằng năm 2003, các doanh nghiệp chế tạo trong công nghiệp sản xuất linh phụ kiện đã đạt được hiệu quả rất tốt, chiếm tới 16.7% lượng sản phẩm sản xuất được và chiếm 18.8% tổng giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp. 14 Theo USP, công ty giao nhận lớn nhất và nhà cung cấp hang đầu các giải pháp dây chuyền cung cấp, công bố trong báo cáo điều tra “USP Asia Bussiness Monitor 2009” nghiên cứu về sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Châu Á, thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Nhật Bản được xem như doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao nhất Châu Á. Trong những năm gần đây do môi trường kinh doanh có nhiều thay đổi theo hướng bất lợi cho nền kinh tế nước này, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản tăng lên đáng kể.
Trong hoàn cảnh bất lợi, các doanh nghiệp SME trong lĩnh vực công nghiệp nói chung và CNHT mà cụ thể là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí chính xác nói riêng đã rất linh hoạt chuyển đổi phương thức quản lý và tổ chức sản xuất, đẩy mạnh quá trình “đổi mới sản phẩm” và tăng cường áp dụng khoa học công nghệ để gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh do vậy tỷ lệ giá trị mà khối doanh nghiệp này đóng góp vào giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp luôn giữ được mức độ ổn định ở mức 50- 60% trong một khoảng thời gian đủ dài trải qua nhiều biến động thăng trầm của tình hình kinh tế. Điều này lý giải vì sao trong điều kiện kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp SME vẫn luôn được coi là một trong những loại hình doanh nghiệp có tính cạnh tranh cao nhất trong khu vực và trên thế giới. Hỗ trợ của chính phủ linh hoạt và hiệu quả Nhằm thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ nói chung và công nghiệp cơ khí chính xác nói riêng, chính phủ Nhật Bản đã có rất nhiều biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp hỗ trợ. Ở Nhật Bản, từ năm 1956 đã có Luật xúc tiến công nghiệp chế tạo máy, áp dụng chính sách hỗ trợ cụ thể cho các ngành CNHT; Luật Phòng chống trì hoãn thanh toán chi phí thầu phụ; Luật Xúc tiến doanh nghiệp thầu phụ nhỏ và vừa (năm 1970)… Hiện nay, chính sách của Nhật Bản là thúc đẩy các doanh nghiệp liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, sử dụng có hiệu quả các phụ tùng giá rẻ của nước ngoài.
Duy trì và tăng cường ưu thế về công nghệ và khâu khai thác phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã và hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng sản xuất, thâm 15 nhập thị trường ngoài nước. Các doanh nghiệp Nhật Bản rất thành công trong việc “xuất khẩu sản xuất”, tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu, khai thác hiệu quả thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao. Thứ nhất các chính sách hỗ trợ đã khuyến khích việc đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển công nghệ mới. Các doanh nghiệp cụ thể là các doanh nghiệp SME có thể được vay vốn ưu đã từ các tổ chức tài chính nhà nước, các khoản trợ cấp và ưu đãi thuế cũng được áp dụng cho các SME tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Thứ hai, chính phủ Nhật Bản nhận thấy ảnh hưởng tích cực của việc trao đổi và liên kết công nghệ giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghiệp khác nhau và khuyến khích phát triển hoạt động này. Để phục vụ nhà lắp ráp, có hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các loại linh phụ kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp. Các công ty của Nhật Bản có tầm cỡ trên thế giới chỉ chiếm 1% số lượng doanh nghiệp, còn trên 95% là các doanh nghiệp SMEs sản xuất các kinh kiện cho công ty này. Mối liên kết mạnh giữa các doanh nghiệp Nhật Bản, được phân chia thành các Tier, trong đó Tier 1 sẽ là các tập đoàn lớn đảm trách nhiệm vai trò tổng thầu; một dự án lớn sẽ thường được chia nhỏ thành rất nhiều phần để chia tiếp cho các công ty nhỏ hơn (Tier 2, Tier 3), thậm chí là Outsource (hợp đồng thuê ngoài hay dịch vụ gia công) ra nước ngoài để tiết giảm chi phí.
Nhật Bản đã thành công trong việc liên kết các doanh nghiệp, điều này nhận thấy khi tất cả các doanh nghiệp cùng hướng đến những phương thức quản lý như 5S hay Kaizen (cải tiến, cải thiện). Chính sự liên kết này đã góp phần làm nên sự phát triển CNHT ở Nhật Bản. Thứ ba, chính phủ luôn khuyến khích sang kiến về các dự án mới. Luật điều chỉnh cho hoạt động của các doanh nghiệp SME được sửa đổi năm 1999 được xem như là xương sống của chính sách dành cho SME.
Những thay đổi và điều chỉnh kịp thời trong chính sách với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho hoạt động của khối doanh nghiệp SME tham gia vào CNHT của Nhật Bản rất hiệu quả.