CHƯƠNG 1: HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG 1. Khái quát về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005 Việc xác định nội hàm của khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Luật Thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005 (LTM 2005) bắt nguồn từ khái niệm hàng hóa theo Luật này. Bởi lẽ, khái niệm hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc xác định tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng. Chỉ khi xác định được quan hệ giữa các bên là quan hệ mua bán hàng hóa, thông qua việc xác định đối tượng của hợp đồng và quyền, nghĩa vụ cơ bản của các bên, thì các quy định pháp luật về thương mại hàng hóa mới có thể áp dụng, trong đó bao gồm quy định về tính phù hợp của hàng hóa với hợp đồng.
LTM 2005 đã quy định hàng hóa bao gồm: (1) tất cả các loại động sản, kể cả 1 động sản hình thành trong tương lai; và (2) những vật gắn liền với đất đai. Có thể thấy, LTM 2005 đã định nghĩa hàng hóa một cách tổng quan và bao quát những đối tượng được đề cập trong giao dịch mua bán hàng hóa. Quy định này của LTM 2005 là dễ hiểu, có thể phân loại và đánh giá được trên thực tế, do đó, quá trình xác định hàng hóa theo quy định này đã diễn ra hiệu quả trong các quan hệ mua bán hàng hóa. Liên quan đến vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, Luật Thương mại (Luật số 58/L-CTN) ngày 10/5/1997 (LTM 1997) quy định: “trường hợp chất lượng hàng hóa không được xác định cụ thể trong hợp đồng, người bán phải giao hàng có chất lượng trung bình của loại hàng hóa đó được lưu thông trên thị trường tại thời điểm giao 2 hàng”.
Bên cạnh đó, LTM 1997 cũng ghi nhận “trường hợp bao bì hàng hoá không được quy định cụ thể trong hợp đồng thì người bán phải giao hàng với bao bì thường 3 dùng cho loại hàng này”. Có thể thấy, LTM 1997 quy định theo hướng “trường hợp các bên không có thỏa thuận thì hàng hóa như thế nào được xem là phù hợp” thông qua xem xét các tiêu chí “chất lượng trung bình được lưu thông trên thị trường tại thời điểm giao hàng” và “bao bì thường dùng”. Đến LTM 2005, vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được ghi nhận cụ thể hơn thông qua xem xét hai trường hợp cụ thể: có sự thỏa thuận giữa các bên và không có sự thỏa thuận giữa các bên. Trường hợp giữa các bên có sự thỏa thuận, hàng hóa không phù 1 Khoản 2 Điều 3 LTM 2005.
2 Khoản 2 Điều 60 LTM 1997. 3 Khoản 3 Điều 60 LTM 1997 quy định bao bì phải bảo đảm an toàn cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển, có tính đến khả năng chuyển tải trong điều kiện bốc dỡ thông thường và phải phù hợp với thời gian, phương tiện vận tải. 7 hợp là hàng hóa không đảm bảo các đặc tính được ghi nhận trong hợp đồng (Điều 34 LTM 2005 quy định bên bán phải giao hàng đúng và đầy đủ theo sự thỏa thuận của các bên). Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thay vì quy định hàng hóa như thế nào là phù hợp, LTM 2005 đã quy định theo hướng ghi nhận một số tiêu chí nhất định để đánh giá hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
So với yêu cầu “chất lượng trung bình” và “bao bì thường dùng” của LTM 1997, LTM 2005 đã ghi nhận các tiêu chí sau: (1) mục đích sử dụng thông thường (so với các hàng hóa cùng chủng loại), (2) mục đích cụ thể (đã được bên mua thể hiện hoặc thuộc trường hợp bên bán phải biết), (3) mẫu hàng hóa mà bên bán đã giao, và (4) cách thức bảo quản, đóng gói. Như vậy, bằng việc mở rộng tiêu chí xem xét, vấn đề “hàng hóa không phù hợp với hợp đồng” được LTM 2005 quy định một cách chi tiết và đa dạng hơn so với LTM 1997. Cùng vấn đề này, pháp luật quốc tế cũng có những quy định nhất định nhằm điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, tiêu biểu là Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Theo CISG, các bên có quyền thỏa thuận về chất lượng của hàng hóa trong hợp đồng tại Điều 35(1).
Trường hợp các bên không có thỏa thuận về vấn đề này, CISG cũng liệt kê các tiêu chí nhằm xem xét hàng hóa có phù hợp hay không tại Điều 35(2). Có thể thấy, quy định của CISG và LTM 2005 về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là tương tự nhau.4 Một trong những nguyên nhân của sự tương tự này là do các nhà làm luật Việt Nam đã tham khảo CISG trong quá trình soạn thảo pháp luật thương mại.5 Như vậy, xem xét quy định và thực tiễn xét xử của CISG sẽ có ý nghĩa tham khảo rất lớn, trong quá trình đánh giá tính hiệu quả của LTM 2005 và thực tiễn áp dụng của cơ quan tài phán Việt Nam trong một số trường hợp cụ thể. Nhìn chung, vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được LTM 2005 đề cập thông qua hai khía cạnh: (1) tính hợp pháp của hàng hóa theo quy định pháp luật về định danh loại hình hàng hóa, và (2) tính phù hợp của hàng hóa so với ý chí của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong đó, khía cạnh (2) được LTM 2005 xem xét trong hai trường hợp: (2.a) có sự thỏa thuận giữa các bên, và (2.b) không có sự thỏa thuận giữa các bên.
Đối với trường hợp không có sự thỏa thuận giữa 4Bộ Công Thương, “Báo cáo nghiên cứu khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)”, https://quochoi.vn/uybandoingoai/content/tulieu/Lists/Tulieu/Attachments/11/Bao%20cao%20tong%20hop% 20ket%20qua%20nghien%20cuu%20Cong%20uoc%20Vien%201980%20(final).pdf, truy cập ngày 20/5/2021, tr. 5 “So sánh CISG và Luật Việt Nam”, https://cisgvn.com/2010/11/01/so-sanh-cisg-va- lu%e1%ba%adt-vi%e1%bb%87t-nam, truy cập ngày 20/5/2021. 8 các bên, các tiêu chí xem xét được quy định tại Điều 39 bao gồm: (2.i) mục đích sử dụng thông thường, (2.ii) mục đích cụ thể, (2.iii) chất lượng của hàng mẫu và (2.iv) cách bảo quản, đóng gói hàng hóa. Với những phân tích trên, để thuận tiện nghiên cứu vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo LTM 2005, tác giả sẽ trình bày vấn đề này thông qua các tiêu chí: (I) Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, (II) Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường, (III) Hàng hóa không phù hợp với mục đích cụ thể, và (IV) Hàng hóa không phù hợp với yêu cầu chất lượng theo mẫu và yêu cầu đóng gói, bảo quản.
Hàng hóa không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, có thể nói, “hàng hóa có chất lượng phù hợp” là lợi ích chính đáng mà bên mua mong muốn đạt được khi giao kết hợp đồng với bên bán. Hay nói cách khác, “nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng là nghĩa vụ cơ bản của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa” 6. Do đó, pháp luật thương mại đã ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về đặc điểm của hàng hóa. Sự thỏa thuận này phải được thể hiện minh thị, cụ thể trong hợp đồng.
Dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thương mại Việt Nam, các bên có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng trên tinh thần tự nguyện, thiện chí; và việc thỏa thuận không được trái với quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội7. Nghĩa là, các bên có thể thỏa thuận bất cứ đặc điểm nào của hàng hóa trong hợp đồng mà các bên cảm thấy cần thiết được ghi nhận, làm rõ và thông tin đến đối phương. Việc thỏa thuận cụ thể về hàng hóa không những tạo điều kiện cho các bên hiểu rõ nhu cầu của nhau, mà còn là một cơ hội để bên bán xem xét, rà soát khả năng thực hiện hợp đồng của mình so với các yêu cầu mà bên mua đưa ra, từ đó các bên có thể đánh giá tính khả thi, hiệu quả của hợp đồng, dẫn đến nâng cao khả năng thực hiện trọn vẹn hợp đồng đã ký kết. Theo CISG, thỏa thuận của các bên về hàng hóa trong hợp đồng cần có các điều khoản chủ yếu (về tên hàng hóa, số lượng, giá cả), trong khi đó, pháp luật thương mại 8 Việt Nam lại không có bất kỳ quy định nào về vấn đề này.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 34 LTM 2005 về nghĩa vụ của bên bán quy định: “Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng”. Quy định này đã thể hiện việc pháp luật thương mại có đề cập đến các đặc điểm của hàng hóa mà bên bán phải đáp 6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ (Tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 9 ứng trong trường hợp các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, gồm: số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản. Điều này có thể được hiểu rằng, “nếu trong hợp đồng có yêu cầu hàng hóa phù hợp với mô tả thì người bán sẽ phải tuân thủ yêu cầu này”9.
Tại Điều 35(1) CISG cũng quy định, hàng hóa phải phù hợp với các yêu cầu về số lượng, chất lượng, bao bì, đóng gói được đề cập tại hợp đồng giữa các bên. Như vậy, cả LTM 2005 và CISG đều ghi nhận quyền thỏa thuận cụ thể về chất lượng hàng hóa của các bên trong hợp đồng. Với quy định này, thỏa thuận của các bên đã trở thành một căn cứ, tiêu chuẩn quan trọng để xem xét “mức độ” phù hợp của hàng hóa được giao, từ đó đánh giá “mức độ” hoàn thành nghĩa vụ của bên bán. Có thể thấy, quy định này của pháp luật thương mại là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên khi điều chỉnh quy định mang tính chất dân sự này.
Bên cạnh đó, pháp luật thương mại cũng thể hiện rằng, xem xét thỏa thuận giữa các bên là ưu tiên hàng đầu. Cụ thể, tại Điều 39 LTM 2005, các tiêu chí luật định chỉ được xem xét đến trong trường hợp hợp đồng giữa các bên không có quy định cụ thể về vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.