Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc. Chương 2: Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa Hồ Chí Minh ở Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch - Thực trạng và giải pháp. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Văn hóa Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong đó, UNESCO quan niệm văn hóa, “Tổng thể những tính chất tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc đặc biệt, đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm không chỉ nghệ thuật và văn học, mà còn bao gồm cả các phương thức sống, các quyền cơ bản của con người, hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” [86, tr.
Theo từ điển Triết học: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội. Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức, giáo dục…). Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội” [88, tr. Song Thành định nghĩa: “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo ra, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển trong quá trình lịch sử.
Trên ý nghĩa đó, văn hóa phản ánh mức độ phát triển của toàn cộng đồng cũng như của mỗi cá nhân về trình độ sản xuất - kinh tế, khoa học - kỹ thuật, triết học - tôn giáo, văn học - nghệ thuật, nếp sống - đạo đức, phong tục- tập quán” [84, tr. Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống giá trị mang tính biểu tượng do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [87, tr. Trên nền tảng văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã sớm có một 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhận thức đúng đắn về văn hoá. Tháng 8-1943, khi còn ở trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [64, tr. Quan niệm văn hóa nêu trên của Hồ Chí Minh xuất hiện trong một bối cảnh thời gian và không gian đặc biệt, khi UNESCO chưa thành lập, cả nước đang tập trung cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đây là quan niệm văn hóa duy nhất của Hồ Chí Minh theo nghĩa rộng.
Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người, mà nguồn gốc là do nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể của sự sáng tạo ra các giá trị văn hóa. Văn hóa bao gồm hai lĩnh vực là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần tương ứng với hai hình thức sản xuất của xã hội loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Văn hóa vật chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vật chất và toàn bộ kết quả của hoạt động này như: công cụ lao động, nhà ở và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày như: ăn, mặc, đi lại, thông tin… Văn hóa tinh thần được phản ánh trong hoạt động ý thức, hoạt động sản xuất tinh thần cùng với toàn bộ kết quả của nó như: hoạt động nhận thức, đạo đức, pháp luật, văn học, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng… Từ sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh có bàn đến văn hóa nhưng theo nghĩa hẹp, với ý nghĩa là kiến trúc thượng tầng, là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, là trình độ học vấn của con người. Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau nhưng đều cho thấy văn hóa là một lĩnh vực có phạm vi rất rộng.
Văn hóa có mặt trong toàn bộ đời sống của con người, trong hoạt động sáng tạo của con người, đồng thời cũng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là thước đo trình độ phát triển và sự hoàn thiện của con người. Vì vậy, văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện các giá trị chân, thiện, mỹ và trở thành nền tảng, sức mạnh của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Di sản văn hóa Di sản theo nghĩa Hán Việt: di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc để lại” [90, tr. Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hóa là tài sản của các thế hệ trước để lại và được xác định là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người, góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững, xây dựng môi trường xã hội Việt Nam lành mạnh, có văn hóa.
Di sản văn hóa được tôn tạo theo đúng chuẩn mực khoa học sẽ trở thành tài nguyên du lịch, cung cấp loại hình dịch vụ văn hóa có sức hấp dẫn, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, một ngành kinh tế của đất nước. Bởi lẽ, đây là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, quá trình khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ, việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, di sản văn hóa Việt Nam là tài sản văn hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được truyền lại từ thế hệ trước sang thế hệ sau, gồm có di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Di sản văn hóa được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước với bao biến cố thăng trầm của lịch sử.
Di sản văn hóa không chỉ góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng mà còn đem lại những giá trị cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, giữ gìn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích lịch sử văn hóa của các thời đại trước còn lại. Di tích lịch sử văn hóa được tạo nên do con người (cá nhân, tập thể) hoạt động sáng tạo lịch sử, con người hoạt động văn hóa mà hình thành nên.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [90, tr. Như vậy, có thể hiểu di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử văn hóa phải bảo đảm được một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước.
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống, đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa, xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các nghi thức, thiết chế 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội… được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong hoạt động sống của mỗi con người, cũng như của toàn xã hội, được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác. Theo Ðảng Cộng sản Việt Nam: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Ðó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.