Giáo Trình Triết Học Dành Cho Học Viên Cao Học

Tài liệu nghiên cứu Giao trinh trit hc sau di hc, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2005

448
33
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC

1.1. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC

1.1.1. Khái niệm triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học

1.2. Vấn đề cơ bản của triết học và các trường phái triết học

1.2.1. Vấn đề cơ bản của triết học

1.2.2. Các trường phái triết học

1.2.3. Thuyết khả tri và thuyết bất khả tri

1.3. Biện chứng và siêu hình

1.3.1. Phương pháp siêu hình và phương pháp biện chứng

1.3.2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

1.4. Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận của triết học

1.4.1. Chức năng thế giới quan của triết học

Tóm tắt

I. Tổng quan về Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học

Giáo trình triết học sau đại học là tài liệu quan trọng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh. Nó không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về triết học mà còn giúp người học hiểu rõ hơn về lịch sử và sự phát triển của triết học qua các thời kỳ. Nội dung giáo trình thường bao gồm các khái niệm cơ bản, các trường phái triết học và ứng dụng thực tiễn của triết học trong xã hội hiện đại.

1.1. Khái niệm triết học và đối tượng nghiên cứu

Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong đó. Đối tượng nghiên cứu của triết học rất đa dạng, từ tự nhiên đến xã hội, từ chính trị đến tôn giáo.

1.2. Lịch sử phát triển triết học qua các thời kỳ

Triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ triết học cổ đại đến triết học hiện đại. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng, phản ánh sự thay đổi trong tư duy và nhận thức của con người.

II. Vấn đề và thách thức trong triết học hiện đại

Triết học hiện đại đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ. Những vấn đề này không chỉ liên quan đến lý thuyết mà còn ảnh hưởng đến thực tiễn xã hội.

2.1. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Đây là câu hỏi lớn mà nhiều trường phái triết học đã cố gắng giải quyết, từ chủ nghĩa duy vật đến chủ nghĩa duy tâm.

2.2. Thách thức từ các trường phái triết học khác nhau

Sự đa dạng của các trường phái triết học hiện đại tạo ra nhiều thách thức cho việc xác định một quan điểm triết học thống nhất. Các trường phái như chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm và thuyết khả tri đều có những quan điểm riêng biệt.

III. Phương pháp và giải pháp trong triết học

Triết học không chỉ là lý thuyết mà còn là phương pháp nhận thức. Các phương pháp triết học như biện chứng và siêu hình đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề triết học.

3.1. Phương pháp biện chứng trong triết học

Phương pháp biện chứng giúp nhận thức sự vật trong mối liên hệ và sự phát triển của chúng. Đây là phương pháp khoa học, linh hoạt và phù hợp với thực tiễn xã hội.

3.2. Phương pháp siêu hình và những hạn chế

Phương pháp siêu hình thường nhận thức sự vật trong trạng thái tĩnh, không xem xét mối quan hệ giữa các sự vật. Điều này dẫn đến những hạn chế trong việc hiểu biết về thế giới.

IV. Ứng dụng thực tiễn của triết học trong xã hội

Triết học không chỉ tồn tại trong lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, chính trị và khoa học. Những ứng dụng này giúp nâng cao nhận thức và cải thiện đời sống xã hội.

4.1. Triết học trong giáo dục và đào tạo

Triết học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy phản biện và khả năng phân tích cho học sinh, sinh viên. Nó giúp họ hiểu rõ hơn về bản thân và thế giới xung quanh.

4.2. Triết học và chính trị xã hội

Triết học cung cấp nền tảng lý luận cho các chính sách xã hội và chính trị. Nó giúp định hình các giá trị và nguyên tắc trong quản lý và phát triển xã hội.

V. Kết luận và tương lai của triết học

Triết học sẽ tiếp tục phát triển và thích ứng với những thay đổi của xã hội. Những vấn đề mới sẽ xuất hiện, đòi hỏi triết học phải có những cách tiếp cận mới để giải quyết.

5.1. Triết học trong bối cảnh toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa mang đến nhiều thách thức và cơ hội cho triết học. Nó yêu cầu triết học phải mở rộng tầm nhìn và tiếp cận đa dạng hơn.

5.2. Tương lai của triết học và khoa học

Sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến triết học. Triết học cần phải tìm ra cách để hòa nhập và phản ánh những thay đổi này trong lý thuyết và thực tiễn.

17/07/2025
Giao trinh trit hc sau di hc

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ___________ GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC (Dùng cho học viên Cao học và Nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học) Hà Nội - 2005 1 Chƣơng 1 KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC VÀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC I. KHÁI LUẬN VỀ TRIẾT HỌC 1. Khái niệm triết học và đối tƣợng nghiên cứu của triết học a) Khái niệm triết học. Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thức VI trước công nguyên với các thành tựu rực rỡ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.

Triết học, theo gốc từ chữ Hán là sự truy tìm bản chất của đối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến đạo lý của sự vật. Theo người Ấn Độ, triết học là darshana. Điều đó có nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải. Theo chữ Hy Lạp, triết học là philosophia, có nghĩa là yêu thích sự thông thái.

Nhà triết học được coi là nhà thông thái, có khả năng nhận thức được chân lý, làm sáng tỏ được bản chất của sự vật. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, khi triết học mới ra đời, đều coi triết học là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâu nắm bắt được chân lý, được quy luật, được bản chất của sự vật. Trải qua quá trình phát triển, đã có nhiều quan điểm khác nhau về triết học. Trong các quan điểm khác nhau đó vẫn có những điểm chung.

Đó là, tất cả các hệ thống triết học đều là hệ thống tri thức có tính khái quát, xem xét thế giới trong tính chỉnh thể của nó, tìm ra các quy luật chi phối trong chỉnh thể đó, trong tự nhiên, xã hội và bản thân con người. Khái quát lại, có thể hiểu. Triết học là một hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó. b) Đối tượng của triết học Triết học ra đời từ thời cổ đại.

Từ đó đến nay, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong quá trình phát triển đó, đối tượng của triết học cũng thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. 2 Thời cổ đại, khi mới bắt đầu có sự phân chia giữa lao động trí óc với lao động chân tay, tri thức của loài người còn rất ít, chưa có sự phân chia giữa triết học với các khoa học khác, mà tất cả tri thức khoa học đều gọi là triết học. Ở Trung hoa, triết học gắn liền với những vấn đề chính trị- xã hội; ở Ấn Độ, triết học gắn liền vơi tôn giáo; ở Hy Lạp.

triết học gắn liền với khoa học tự nhiên và gọi là triết học tự nhiên. Cũng vì vậy, khi đó đối tượng nghiên cứu của triết học là mọi lĩnh vực tri thức. Đây cũng là nguyên nhân sâu xa về sau dẫn đến quan niệm cho rằng: "Triết học là khoa học của các khoa học". Thời kỳ này, triết học đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đặt nền móng cho sự phát triển về sau không chỉ đối với triết học mà còn đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Thời Trung cổ ở Tây Âu, do sự thống trị của Giáo hội thiên chúa giáo trên mọi mặt của đời sống xã hội, triết học trở thành đầy tớ của thần học. Nhiệm vụ của triết học khi đó là lý giải và chứng minh tính đúng đắn của các nội dung trong kinh thánh. Triết học đó gọi là triết học kinh viện. Với khuôn khổ chật hẹp của đêm trường Trung cổ, triết học phát triển rất chậm chạp.

Vào thế kỷ XV- XVI, khi trong lòng xã hội phong kiến các nước Tây Âu xuất hiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khoa học tự nhiên phát triển. Khi đó, triết học duy vật phát triển gắn liền với yêu cầu phát triển của phương thức sản xuất tư bản và sự phát triển của khoa học tự nhiên. Đặc biệt, đến thế kỷ XVII- XVIII, khi cách mạng tư sản nổ ra ở các nước Tây Âu, khi khoa học tự nhiên diễn ra quá trình phân ngành sâu sắc và đạt được nhiều thành tựu, nhất là cơ học Niutơn, triết học duy vật phát triển mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo. Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII- XVIII là chủ nghĩa duy vật Anh, Pháp, Hà Lan với các đại biểu như Ph.

Vào thời kỳ này, mặc dầu khoa học tự nhiên đã hình thành các bộ môn khoa học độc lập, nhưng triết học vẫn gắn liền với khoa học tự nhiên, chưa xác định rõ đối tượng nghiên cứu của riêng mình. Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khi mà Anh, Pháp đã là nước tư bản, thì nước Đức còn là một nước phong kiến, giai cấp tư sản đang hình thành. Trước ảnh hưởng của Anh, Pháp và yêu cầu phát triển của giai cấp tư sản Đức, triết học Đức đã phát triển mạnh mẽ nhưng trên lập trường duy tâm mà đỉnh cao là triết học Hêghen. Hêghen xem triết học của mình là 3 một hệ thống phổ biến của tri thức khoa học, mà trong đó các ngành khoa học cụ thể chỉ là những móc khâu của triết học.

Triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối cùng xem triết học là "khoa học của các khoa học". Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, trước yêu cầu cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và sự phát triển của khoa học tự nhiên lúc bấy giờ, triết học Mác đã ra đời. Triết học Mác đã đoạn tuyệt với quan niệm "triết học là khoa học của các khoa học" và xác định đối tượng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa vật chất với ý thức trên lập trường duy vật; nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, từ đó định hướng cho hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn của con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội theo con đường tiến bộ. Với sự phát triển đầy mâu thuẫn trong xã hội tư bản, với những thành tựu trong cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, ở các nước tư bản hiện đại đã xuất hiện nhiều trào lưu triết học khác nhau mà ta gọi là "triết học phương Tây hiện đại".

Đó là các trào lưu triết học duy khoa học, trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trào lưu triết học tôn giáo. Vấn đề cơ bản của triết học và các trƣờng phái triết học. a) Vấn đề cơ bản của triết học. Ăng ghen, ngay từ thời cổ xưa, con người đã gặp phải vấn đề quan hệ giữa linh hồn với thể xác của con người.

Từ việc giải thích những giấc mơ, người ta đi đến quan niệm về sự tách rời giữa linh hồn với thể xác, về sự bất tử của linh hồn. Như vậy, ngay từ thời đó, con người phải suy nghĩ về mối quan hệ giữa linh hồn với thế giới bên ngoài. Từ khi triết học ra đời, vấn đề đó được tiếp tục nghiên cứu giải quyết nhưng trên cơ sở khái quát cao hơn, đó là mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại , giữa tinh thần với tự nhiên, giữa ý thức với vật chất. Đó chính là vấn đề cơ bản của triết học.

Ăng ghen viết: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại". 1 Vấn đề mối quan hệ giữa tư duy với tồn tại, hay giữa ý thức với vật chất được gọi là "vấn đề cơ bản lớn" của triết học vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học. Việc giải quyết vấn đề này là tiêu chuẩn để phân chia các trường phái triết học trong lịch sử. Ăng ghen Toàn tập, tập 21, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2004, tr.

403 4 Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: -Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? -Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Căn cứ vào cách giải đáp hai mặt đó của vấn đề cơ bản mà các nhà triết học được chia thành các trường phái khác nhau. b) Các trường phái triết học - Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Căn cứ vào cách giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học được chia làm hai trường phái chính: chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. + Chủ nghĩa duy vật cho rằng, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức.

Chủ nghĩa duy vật được thể hiện ba hình thức lịch sử cơ bản là: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của chủ nghĩa duy vật. Vào thời kỳ này, khoa học tự nhiên mới hình thành cho nên các quan điểm duy vật được hình thành dựa trên cơ sở trực quan, trực giác nên mang tính mộc mạc, chất phác. Khi đó, các nhà duy vật giải thích thế giới vật chất bằng cách đi tìm một hay một số sự vật ban đầu, từ đó sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới.

Mặc dù còn mang tính mộc mạc, chất phác của nó, nhưng chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã xuất phát từ bản thân giới tự nhiên để giải thích tự nhiên, không viện đến thần linh, thượng đế. Hình thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại (Thế kỷ XVII- XVIII) ở các nước Tây Âu. Nó là thế giới quan của giai cấp tư sản cách mạng chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của giai cấp phong kiến. Dựa trên những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật thời kỳ này đã có một bước phát triển so với chủ nghĩa duy vật thời cổ đại.

Tuy nhiên, do hạn chế bởi trình độ khoa học và lợi ích giai cấp, cho nên duy vật chưa triệt để và mang tính chất siêu hình, máy móc. 5 Hình thức thứ ba của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Ăng ghen sáng lập ra và không ngừng phát triển gắn liền với thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và các thành tựu của khoa học hiện đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu Giáo Trình Triết Học Sau Đại Học: Khái Niệm và Lịch Sử cung cấp một cái nhìn tổng quan về các khái niệm cơ bản trong triết học, cũng như lịch sử phát triển của nó. Nội dung của giáo trình không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các lý thuyết triết học quan trọng mà còn mở rộng kiến thức về cách mà triết học ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác trong xã hội. Đặc biệt, tài liệu này rất hữu ích cho những ai đang theo học sau đại học, giúp họ xây dựng nền tảng vững chắc cho nghiên cứu và thảo luận sâu hơn về các vấn đề triết học.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn, bạn có thể tham khảo tài liệu Giáo trình triết học mác lênin, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về triết học Mác-Lênin, hoặc Chương 1 khái luận về triết học, giúp bạn nắm bắt các khái niệm cơ bản trong triết học. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá thêm và mở rộng hiểu biết của mình về triết học.