mở đầu - Đối với người dạy: Sử dụng phương pháp giảng giảng dạy tích cực (diễn giảng, vấn đáp, dạy học theo vấn đề); yêu cầu người học nhớ các giá trị đại lượng, đơn vị của các đại lượng. - Đối với người học: Chủ động đọc trước giáo trình trước buổi học Điều kiện thực hiện bài học - Điều kiện về tài liệu, hồ sơ thực tập - Điều kiện đảm bảo an toàn lao động - Các điều kiện khác: Không có Kiểm tra và đánh giá bài học - Nội dung: Kiến thức: Kiểm tra và đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kiến thức Kỹ năng: Đánh giá tất cả nội dung đã nêu trong mục tiêu kĩ năng. Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Trong quá trình học tập, người học cần: + Nghiên cứu bài trước khi đến lớp + Chuẩn bị đầy đủ tài liệu học tập. + Tham gia đầy đủ thời lượng môn học.
+ Nghiêm túc trong quá trình học tập. 19 - Phương pháp: Quan sát, so sánh, đánh giá theo quy trình 3. Khảo sát công việc hành ngày tại nhà máy 3. Khái niệm quản lý kỹ thuật Kỹ thuật là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Quản lý kỹ thuật: Là sự tác động của các cơ quan quản lí nhà nước và các đơn vị kinh tế cơ sở nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các yếu tố kĩ thuật để nâng cao chất lượng của quá trình sản xuất. Ý nghĩa, nội dung của quản lý kỹ thuật Công tác quản lý kỹ thuật có ý nghĩa: Kiểm soát được quá trình sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất… nâng cao khả năng cạnh tranh. Mang tính thiết yếu nhất là trong thời đại mà sự biến đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ là một thách thức với quản lý kỹ thuật của tất cả các công ty. Quản lý kỹ thuật tốt cho phép lôi kéo tập thể những người có trình độ, năng động, sáng tạo… Nội dung quản lý kỹ thuật: Hoạt động của quản lý kỹ thuật xâm chiếm hầu hết các giai đoạn của quá trình sản xuất.
Nó bao gồm tất cả các hoạt động kỹ thuật được phân thành ba loại: kỹ thuật sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và kỹ thuật máy móc thiết bị. Kỹ thuật sản phẩm thì chủ yếu liên quan đến thiết kế sản phẩm để chế tạo. Quá trình này thường được bắt đầu sau khi có ý tưởng về sản phẩm hay mô hình sản phẩm. Kỹ thuật sản xuất liên quan đến việc tìm ra các quy trình công nghệ chế tạo các phương tiện và phương pháp chế tạo ra sản phẩm.
Kỹ thuật máy móc thiết bị nhằm bảo đảm cho hệ thống máy móc thiết bị hoạt động liên tục, an toàn. Quản lý chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là khả năng của một vật phẩm nào đó để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội, những đòi hỏi và sở thích của người sử dụng. Chất lượng sản phẩm được thể hiện qua những khía cạnh chung sau đây: Trình độ kỹ thuật: là mức độ thể hiện trong sản phẩm những thành tựu khoa học kỹ thuật Trình độ thiết kế: Thể hiện tích chất đặc trưng về mặt kỹ thuật, tính thuận tiện của việc sử dụng sản phẩm đó (bảo dưởng, bảo quản, sửa chữa.) Chất lượng kỹ thuật: là đặc tính sử dụng thực tế của sản phẩm trong quá trình sử dụng sản phẩm (độ chính xác, độ bền, tuổi thọ, độ tin cậy) 20 3. Biện pháp Kiểm tra nghiêm ngặt qui trình chuẩn bị kỹ thuật cho sản xuất, chấp hành nghiêm chỉnh công nghệ sản xuất, thường xuyên nâng cao trình độ chính trị tư tưởng và nghiệp vụ cho công nhân.
Cung cấp nguyên vật liệu đúng qui cách, chất lượng chủng loại và thời gian cho các nơi làm Đảm bảo hệ thống máy móc, thiết bị, vận hành chính xác, liên tục và đồng bộ. Tăng cường kiểm tra chất lượng sản phẩm bằng các phương pháp và công cụ tiên tiến. Thực hiện kiểm tra vật chất đối với chất lượng công tác, chất lượng sản phẩm - thưởng - phạt rõ ràng. Hoàn thành các mặt tổ chức trong doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm các cá nhân và các tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm.
Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS) Kiểm tra chất lượng sản phẩm nhằm vào các đối tượng sau: Tình trạng qui cách nguyên vật liệu, bán thành phẩm trước khi đưa vào gia công Chất lượng sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm của phân xưởng, thành phẩm nhập kho. Trạng thái máy móc, dụng cụ sản xuất, đồ gá lắp dụng cụ đo lường Phương pháp thao tác và việc thực hiện qui trình công nghệ của công nhân và các điều kiện sản xuất có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (nhiệt độ, ánh sáng, thông gió. Hình thức kiểm tra: Khá phong phú Theo bước công việc: Có thể kiểm tra toàn diện các bước công việc hay kiểm tra một bước công việc nào đó. Kiểm tra toàn bộ hoặc kiểm tra điển hình một số chế phẩm nào đó Tùy theo đối tượng kiểm tra.
Theo địa điểm trạm kiểm tra. Kiểm tra cố định: Các đối tượng kiểm tra được đưa đến trạm kiểm tra Kiểm tra lưu động: Đối tượng kiểm tra có kích thước lớn, khó vận chuyển Theo giai đoạn sản xuất: Kiểm tra giữa chừng: Sản phẩm dở dang, máy móc, thao tác công nhân Kiểm tra cuối cùng: Thành phẩm hoặc bán thành phẩm Hình thức 3 kiểm tra: Công nhân tự kiểm, Đốc công tổ trưởng kiểm tra, Cán bộ 21 3. Phương pháp KCS Gồm có các phương pháp kiểm tra sau Phương pháp trực quan: dùng 5 giác quan: rượu, chè, thuốc. Phương pháp dụng cụ: Dùng cân, thước, nhiệt kế, các dụng cụ chuyên dùng.
Phương pháp phân tích: Dùng các thiết bị chuyên môn để phân tích tính chất bên trong của sản phẩm. Sử dụng và bảo trì máy móc thiết bị 3. Bảo trì thiết bị máy móc Là hành động được tiến hành theo định kỳ bằng các phương tiện để đảm bảo sự vận hành các thiết bị máy móc được liên tục. Tính kinh tế của bảo trì và các chính sách cho hoạt động bảo trì Những quan điểm khi xây dựng chính sách bảo trì là: Lợi dụng các hợp đồng với bên ngoài vào những thời kỳ cao điểm để công tác bảo trì khỏi bị lạc hậu và tránh hiện tượng thuê công nhân sửa chữa tạm thời.
Hợp đồng với bên ngoài cho những dịch vụ chuyên môn cao ở những máy móc thiết bị đặc biệt hay các thiết bị chuyên dùng. Tạm gác các công việc bảo trì đến những thời kỳ ít việc để điều hòa việc sử dụng công nhân bảo trì. Lựa chọn thời điểm thay thế máy móc thiết bị một cách hợp lý. Nói chung, là nên thay thế máy móc thiết bị trước khi chúng quá cũ, đòi hỏi nhiều chi phí và thời gian sửa chữa.
Lập kế hoạch và tiến độ bảo trì Lập kế hoạch bảo trì bao gồm các nội dung sau: Thiết lập thứ tự ưu tiên của công tác bảo trì. Các định hướng công việc cần làm. Xác định thời gian, loại thợ, vật tư, dụng cụ, thiết bị đặc chủng và các yêu cầu an toàn khi sửa chữa. Căn cứ để lập kế hoạch sửa chữa bao gồm: Các dự án sửa chữa thay thế lớn mà được ban lãnh đạo thông qua.
Các lý lịch máy, lệnh công tác, kế hoạch sản xuất của nhà máy. Các công việc sửa chữa, yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp. Tình hình mua sắm dự trữ vật tư, phụ tùng thay thế. Kế hoạch tiến độ được lập theo hai bước: Thứ nhất là lập biểu tổng hợp các công việc sửa chữa có thể dự kiến trước.
Thứ hai là điều chỉnh khi các hiện tượng khẩn cấp phát sinh. Các kiểu bảo trì Công tác bảo trì có thể phân làm ba loại tổng quát hiệu chỉnh, dự phòng và dự báo 22 Bảo trì hiệu chỉnh: Bảo trì hiệu chỉnh là một dạng bảo trì mà chúng ta thường nghĩ tới theo cách thông thường nhất “sửa chữa”. Hoạt động này được tiến hành sau khi thiết bị ngừng hoạt động. Bảo trì dự phòng: Bảo trì dự phòng là tổng hợp các biện pháp tổ chức, kỹ thuật về bảo dưỡng, kiểm tra và sửa chữa, được tiến hành theo chu kỳ sửa chữa đã quy định và theo kế hoạch nhằm hạn chế sự hao mòn, ngăn ngừa sự cố máy móc thiết bị đảm bảo thiết bị luôn hoạt động trong trạng thái bình thường.
Một chương trình bảo trì dự phòng phải đảm bảo các tính chất sau: Công việc sửa chữa phải tiến hành theo kế hoạch, tức là cứ đến ngày, tháng quy định là đưa máy ra sửa chữa. Xác định trước được nội dung sửa chữa. Nội dung cơ bản của bảo trì dự phòng gồm: Kiểm tra định kỳ là xem xét theo tiến độ kế hoạch nhằm tìm ra các hiện tượng không bình thường của máy móc thiết bị, phát hiện các thiết bị và bộ phận máy sắp hỏng cần phải thay thế trong kỳ sửa chữa tới. Sửa chữa nhỏ hay còn gọi là sửa chữa thường xuyên là loại công tác sửa chữa đơn giản nhất, không đòi hỏi phải tháo rời toàn bộ máy mà chỉ tháo các bộ phận đã được xác định trong kỳ kiểm tra.
Sửa chữa vừa là ngoài việc thay thế các chi tiết chóng mòn, vừa còn bao gồm công việc nhằm khôi phục độ chính xác và công suất của thiết bị. Sửa chữa lớn là công việc sửa chữa toàn diện, phức tạp nhất. Người ta phải tháo máy ra khỏi bệ máy, thay thế sửa chữa các bộ phận cơ sở nhất, sau khi sửa chữa lớn máy có thể có chất lượng tương đương máy mới. Các nội dung sửa chữa tiến hành theo một chu kỳ.
Chu kỳ sửa chữa là khoảng thời gian cách quãng giữa hai lần sửa chữa lớn kế tiếp nhau. Bảo trì dự báo: Thực chất nó là một kiểu bảo trì dự phòng có sử dụng các dụng cụ nhạy cảm (VD: máy phân tích độ rung, máy đo biên độ, máy dò siêu âm, dụng cụ quang học, các dụng cụ kiểm tra áp suất, nhiệt độ, điện trở…) để dự báo trước các sự trục trặc. Có thể liên tục hay định kỳ theo dõi các điều kiện tới hạn. Phương thức này cho phép nhân viên bảo trì có thể xác định trước sự cần thiết phải sửa chữa lớn.
Các hình thức tổ chức công tác bảo trì Ta có thể tổ chức công tác bảo trì bằng các hình thức như sau: Hình thức phân tán (bảo trì từng phân xưởng riêng lẻ) có những ưu điểm là: Tạo điều kiện kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất chính và bộ phận bảo trì.