CHƯƠNG 1: TỶ GIÁ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ TRONG NGOẠI THƯƠNG 1. Ngoại hối và chính sách quản lý ngoại hối 1. Ngoại hối Ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế; trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả, thanh toán lẫn cho nhau. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm: - Ngoại tệ: là đồng tiền nước ngoài (bao gồm cả đồng tiền chung của các nước khác và Quyền rút rốn đặc biệt SDR).
Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền. - Các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, như séc thương mại, chấp phiếu ngân hàng, kỳ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác. - Vàng tiêu chuẩn quốc tế: là vàng khối, vàng thỏi có chất lượng từ 99,5% và khối lượng từ 1 kg trở lên, có nhãn hiệu của nhà sản xuất vàng, được hiệp hội vàng, sở giao dịch vàng quốc tế công nhận. - Đồng tiền quốc gia do người không cưu trú nắm giữ.
Khái niệm ngoại hối thường được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất gữa các quốc gia. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trên thực tế, người ta chủ yếu mua bán ngoại tệ, còn các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ ít được mua bán trực tiếp trên thị trường ngoại hối. Muốn trở thành ngoại tệ để giao dịch trên thị trường ngoại hối, thì trước hết phải bán (chiết khấu) các giấy tờ có giá để có ngoại tệ, sau đó mới tiến hành mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Do đó, theo nghĩa hẹp, ngoại hối chính là ngoại tệ.
Thị trường ngoại hối Trong ngoại thương cũng như các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các nước, làm phát sinh nhu cầu trao đổi, mua bán các đồng tiền khác nhau. Việc mua bán các đồng tiền khác nhau diễn ra trên thị trường, thị trường này gọi là thị trường ngoại hối. Thị trường ngoại hối có các đặc điểm sau: 1. Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình nhất định, nên nó còn được gọi là thị trường không gian (space market).
Do sự chênh lệch về múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm. Thị trường bắt đầu hoạt động từ Australia, Nhật, Singapore, Hongkong, Châu Âu, New York… và cứ như vậy, khi thị trường khu vực Châu Á đóng cửa thì thị trường Châu Mỹ bắt đầu hoạt động theo một chu kỳ khép kín toàn cầu. Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với doanh số giao dịch chiếm khoảng 85%. Phương tiện giao dịch gồm điện thoại, mạng vi tính, telex và fax.
Do thông tin được truyền đi rất nhanh và hiệu quả cho nên tuy các thành viên tham gia thị trường ở rất xa nhau nhưng họ vẫn có cảm giác là đang cùng hoạt động dưới một mái nhà chung. Do thị trường có tính toàn cầu và hoạt động hiệu quả, nên tỷ giá trên các thị trường là thống nhất với nhau. Đây là thị trường rất nhạy với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý… nhất là với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển. Doanh số mua bán ròng toàn cầu, tại thời điểm năm 2020 ước tính vào khoảng 3000 tỷ USD/ngày.
Thị trường ngoại hối toàn cầu có tốc độ phát triển rất nhanh trong mấy thập kỷ qua, đặc biệt là từ cuối những năm 1980 là do có những nguyên nhân chính sau: - Sau khi hệ thống hệ thống tiền tệ Bretton Woods bị sụp đổ vào năm 1973, tỷ giá các đồng tiền trên thế giới được thả nổi và dao động mạnh đã buộc những nhà kinh doanh tiền tệ, xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế phải tìm kiếm các biện pháp phòng chống rủi ro thông qua thị trường ngoại hối; mặt khác, họ cũng tranh thủ thời cơ tỷ giá biến động mạnh để đầu cơ kiếm lời. Điều đó làm tăng nhu cầu giao dịch mua bán ngoại tệ, góp phần thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển nhanh chóng. - Xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế diễn ra mạnh mẽ về chiều rộng lẫn chiều sâu, bao gồm cả các nước đang phát triển cũng đã và đang tích cực tham gia tiến trình hội nhập, là tiền đề để các nước tiến hành nới lỏng quy chế quản lý ngoại hối nhằm tạo điều kiện cho chu chuyển honàg hóa, dịch vụ và vốn quốc tế được hiệu quả. Điều này tạo nên một thị trường ngoại hối quốc tế ngày càng rộng lớn với doanh số giao dịch ngày một cao.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã góp phần làm giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ thanh toán, góp phần tích cực thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển như ngày nay. Bên cạnh tăng doanh số giao dịch, thị trường ngoại hối quốc tế còn phát triển mạnh về chiều sâu, đó là tạo ra nhiều loại hình nghiệp vụ kinh doanh mới, phức tạp hơn, tinh vi hơn và cũng trở nên rủi ro hơn. Các nghiệp vụ trên FOREX: Căn cứ tính chất và nội dung kinh doanh, các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối bao gồm: 1. Nghiệp vụ giao ngay (The Spot Operations).
Nghiệp vụ kỳ hạn (The Forward Operations). Nghiệp vụ hoán đổi (The Swaps Operations). Nghiệp vụ tương lai (The Currency Futures). Nghiệp vụ quyền chọn (The Currency Options).
Chính sách quản lý ngoại hối Nội dung về chính sách quản lý ngoại hối của Việt Nam hiện nay được quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 và Pháp lệnh số 06/2013/PL-UBTVQH13 ngày 18/3/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách quản lý ngoại hối nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm lợi ích hợp pháp cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngoại hối, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế; thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam; thực hiện mục tiêu trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng Việt Nam; thực hiện các cam kết của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt Nam. Những vấn đề cơ bản về tỷ giá 2. Tỷ giá (Exchange rate) Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng.
Thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau. Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc mua bán các đồng tiền khác nhau, đồng tiền này lấy đồng tiền kia, hai đồng tiền được mua bán với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá. Vậy, chúng ta có thể định nghĩa “Tỷ giá là giá của một đồng tiền được biểu thị qua một đồng tiền khác”. Trong ví dụ này, giá của USD được biểu thị thông qua VND và 1 USD có giá là 24.
Đồng tiền yết giá, đồng tiền định giá 17 Trong tỷ giá có 2 đồng tiền, một đồng tiền đóng vai trò đồng tiền yết giá, còn đồng tiền gia đóng vai trò đồng tiền định giá. Đồng tiền yết giá (Commodity Currency – Ký hiệu là “C”): là đồng tiền có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị. Đồng tiền định giá (Terms Currency – Ký hiệu là “T”): là đồng tiền có số đơn vị thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Ví dụ: 1 AUD = 0,7642 USD, trong đó: AUD là đồng tiền yết giá, còn USD là đồng tiền định giá c.
Yết tỷ giá hai chiều (Two-way quotation) Trong kinh doanh ngoại hối, các ngân hàng luôn yết tỷ giá hai chiều, bao gồm: chiều mua vào (tức tỷ giá mua) và chiều bán ra (tức tỷ giá bán). Tỷ giá mua đứng trước, còn tỷ giá bán đứng sau. Tỷ giá mua thấp hơn tỷ giá bán. Chênh lệch giữa chúng là thu nhập gộp của ngân hàng, bao gồm: chi phí hoạt động và phần lợi nhuận của ngân hàng.
Quy ước tên đơn vị tiền tệ Để thống nhất và tiện lợi trong các giao dịch ngoại hối, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế ISO quy ước tên đơn vị tiền tệ của một quốc gia được viết bằng 3 ký tự. Hai ký tự đầu tiên là tên quốc gia, ký tự sau cùng là tên đồng tiền. Ví dụ, tên đơn vị tiền tệ của Mỹ USD, 2 ký tự đầu là viết tắt của The United States, ký tự sau cùng viết tắt tên của dollar. Ký hiệu tiền tệ của một số quốc gia thông dụng Tên đồng tiền Ký hiệu Bảng Anh GBP Dollar Mỹ USD Đồng Euro EUR Dollar Canada CAD Dollar Hồng Kông HKD Dollar Singapore SGD Dollar Úc AUD Franc Thụy Sĩ CHF Yên Nhật JPY Đồng Việt Nam VND 18 2.
Phân loại tỷ giá a. Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối: 1. Tỷ giá mua vào – Bid rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra – Ask rate (Offer rate): là tỷ giá mà tại đó ngân hàng sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.
Tỷ giá giao ngay (Spot rate): là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo. Tỷ giá kỳ hạn (Forward rate): là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. Tỷ giá mở cửa (Opening rate): là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá đóng cửa (Closing rate): là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày.
Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất các các hợp đồng đã được ký kết trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày. Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa ngày hôm sau. Tỷ giá chéo (Cross rate): là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian).
Tỷ giá chuyển khoản (Transfer rate): tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ và các khoản tiền gửi tại ngân hàng.