chương 1 bao gồm tổng hợp những kiến thức cơ bản về đầu tư, dự án đầu tư; nhắc lại những vấn đề trong soạn thảo dự án đầu tư; khái quát những vấn đề chung về thẩm định dự án đầu tư. Từ đó, giúp người học hiểu rõ được những kiến thức cơ bản về thẩm định dự án đầu tư: (i) Khái niệm về thẩm định dự án đầu tư; (ii) Mục tiêu của thẩm định dự án; (iii) Nội dung cơ bản của thẩm định dự án đầu tư; (iv) Các bên liên quan và hường lợi từ thẩm định dự án đầu tư; (v) Thời điểm tiến hành thẩm định dự án đầu tư. Mặt khác, các kỹ năng phân tích, liên hệ thực tiễn sẽ được cung cấp cho người học. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀU TƯ 1.
Khái niệm đầu tư Đầu tư là hoạt động có mục đích, trước hết nhằm tạo dựng và vận hành một tài sản đầu tư nào đó ở dạng tài sản vật chất, vốn hay tài chính,. gọi chung là các nguồn lực. Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ các nguồn lực, quản lý và sử dụng nguồn lực nhằm mục đích sinh lợi. Mục đích đầu tư đạt được thường phải cần một thời gian nhất định trong tương lai.
Trong điều kiện cuộc cách mạng số bùng nổ - cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0) - Thời kỳ sản xuất thông minh nhờ đột phá của công nghệ số cần tập trung đầu tư vào đầu tư phát triển ngành và lĩnh vực công nghệ có hàm lượng tri thức cao, chú trọng vào đầu tư vô hình và đáu tư vào con người. 12 Đầu tư có nhiều khái niệm khác nhau tùy theo các tiêu chí cụ thể được xem xét: Đầu tư là cam kết về tiền hoặc tư bản để mua các công cụ tài chính hoặc các tài sản khác để thu lợi nhuận dưới hình thức lãi, thu nhập hoặc nâng cao giá trị của công cụ. Đầu tư có liên quan đến việc tiết kiệm và trì hoãn tiêu dùng. Theo Nguyễn Xuân Thủy (2010): “tìầ u tư là hoạt động sử dụng tiền von, tài nguyên để sàn xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội ” [19; tr.
11] Nguyễn Bạch Nguyệt (2013) khẳng định: “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong (ương la i” [14; tr. 5] Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thống (2013) đã nêu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ von bằng các loại tài sàn hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư trong một ihời gian nhất định nhằm thu về lợi nhuận, lợi ích kinh tế xã hội ” [ 18; tr.
3] Theo Zvi Bodie và cộng sự (2013), ‘‘Đầu tư là cam kết hiện tại về tiền hoặc các nguồn lực khác với mong muốn íhu được lợi ích trong tương l a i” [31; tr. 2], M ột cá nhân có thể mua cổ phần mà dự đoán cổ phiếu đó tăng thỉ khoản tiền đầu tư này sẽ chịu sự ràng buộc về thời gian cũng như rủi ro từ việc đầu tư. Thời gian bạn dành đề đọc sách này (K hông ngụ ý đến chi phí của nó) cũng là m ột sự đầu tư. Bạn đang từ bỏ giải trí hoặc thu nhập hiện tại, bạn có thể kiếm được một công việc như mong đợi trong tương 13 lai.
Công việc ấy sẽ chứng m inh m ột cách rõ ràng, đầy đủ cho cam kết về thời gian và công sức này. Hai công cuộc đầu tư khác nhau, nhưng suy cho cùng cốt lõi của các khoản đầu tư đều là: Bạn hy sinh m ột cái gi đó có giá trị ngay lúc này, mong đợi nhận được lợi ích từ sự hy sinh đó sau. Như vậy, có thể khái niệm: “Đầu tư là việc sử dụng nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động trong một khoảng thời gian cụ thể nhằm thu được lợi ích trong tương lai 1. Đặc điểm hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư phải có nguồrì lực: Nguồn lực có thể là tiền; tài sản như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng, giá trị quyền sử dụng đất/m ặt nước/m ặt biển,.; các nguồn tài nguyên thiên nhiên; sức lao động; bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ th u ậ t;.
Thời gian đầu tư tương đổi dài. Thời hạn đầu tu được ghi rõ trong quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư. Chính đặc điểm này mà người lập dự án cũng như người thẩm định dự án cần phải có tầm nhìn xa hay có những dự báo cho tất cả các hoạt động như dự báo cung cầu biến động, dự báo sự thay đổi của lãi suất cũng nhu tỉ lệ lạm phát, dự phòng những rủi ro có thể xảy ra (bao gồm cả rủi ro khách quan và chủ quan). Bởi lẽ tất cả những yếu tố ấy đều tác động đến dòng tiền của dự án.
Lợi ích của hoạt động đầu tư biếu hiện ở cả khía cạnh tài chính và kinh tế xã hội: Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến chủ đầu tư; lợi ích kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, cộng đồng. Căn cứ vào lợi ích tài chính mà chủ đầu tư (bao gồm cả trường hợp chủ đầu tư là Nhà nước) sẽ cân nhắc để quyết định có đầu tư hay không? Căn cứ vào lợi ích kinh tế xã hội mà Nhà nước sẽ ra quyết định cấp phép đầu tư cho các dự án mà chủ đầu tư không phải là nhà nước hay không? 14 1. Phân loại đầu tư Theo quan hệ quàn lý cùa chủ đầu tư, gồm: (i) Đầu tu trực tiếp; và (ii) Đầu tư gián tiếp. - Đầu tư trực tiếp là hỉnh thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
Chủ thể bỏ vốn đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình. - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư m à người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đây là hình thức đầu tư trong đó, người bỏ vốn và người quản trị sử dụng vốn là những chủ thể khác nhau. Người bỏ vốn thường là tổ chức và cá nhân cho vay vốn, họ luôn có lợi nhuận do thu lãi suất cho vay.
Trong mọi tình huống về kết quả của hoạt động đầu tư, dù lãi hay lỗ thì người bỏ vốn đều không chịu trách nhiệm pháp nhân. Theo hình thức đầu tư, gồm : (i) Đ ầu tư mới; và (ii) Đầu tư chiều sâu/ mở rộng quy mô sản xuất. - Đầu tư mới là hoạt động bỏ vốn để xây dựng các công trình với mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoặc hình thành các đơn vị sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân riêng. - Đầu tư chiều sâu/ mở rộng quy mô sản xuất là hoạt động bỏ vốn để mở rộng công trình cũ đang hoạt động, nâng cao công suất, tăng thêm mặt hàng, hoặc nâng cấp, hiện đại hoá, đồng bộ hoá dây chuyền sàn xuất, dịch vụ fren cơ sở các công trình sẵn có.
Theo nguồn von đầu tư, gồm. (i) Đầu tư sử dụng nguồn vốn trong nước; và (ii) Đầu tư sừ dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài. - Đầu tư sử dụng nguồn vốn trong nước là hoạt động đầu tư sử dụng phần tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội. Nguồn vốn trong nước bao gồm: Nguồn vốn nhà nước (vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển cùa nhà nước; vốn đầu tư phát 15 triển của doanh nghiệp nhà nước); Nguồn vốn cùa dân cư và tư nhân (tiết kiệm của dân cư; tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã).
- Đầu tư sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài là hoạt động đầu tư sử dụng phân tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: Tài trợ phát triển chính thức (ODF-Official Development Finance); Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment); Tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế; v ố n huy động qua thị trường vốn quốc tế. Trong đó, tài trợ phát triển chính thức bao gồm Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA- Official Development Assistance) và các hình thức tài trợ khác, nhưng ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu trong ODF. Khái niệm dự án đầu tư Theo tác giả Anton Zandhuis và cộng sự (2013), dự án được định nghĩa nhu sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất bao gồm một tập hợp các hoạt động phổi hợp và kiểm soái; có ngày bal đầu và ngày kết thúc, được thực hiện để đạt mục tiêu phù hợp với yêu cầu cụ thể, bao gồm rất nhiều những ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực” [27; tr.
15] Theo Luật Đầu tư của Việt Nam năm 2014: "Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bò vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu lư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định" [Khoản 2, Điều 3, Luật đầu tư, số 67/2014 QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014], Tác giả Nguyễn Bạch N guyệt (2013) cho rằng dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau [14; tr. 13-14], - về mặt hình thức. Dự án là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. 16 - Xét trên góc độ quan lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài.
- Xét trên góc độ kế hoạch.